Đời sống
11/02/2026 06:26Gia đình đặc biệt ở Việt Nam có chồng là Tổng Bí thư, vợ là Bí thư Thành ủy nổi tiếng
Gia đình đặc biệt ấy chính là Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn Nguyễn Thị Minh Khai. Cả hai đều quê ở Nghệ An và đều là những nhà lãnh đạo xuất sắc, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Theo thông tin trên trang Daihoidang.vn của Thông tấn xã Việt Nam, đồng chí Lê Hồng Phong (1902–1942), tên thật là Lê Huy Doãn, là một trong những lãnh đạo tiêu biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông được bầu làm Tổng Bí thư tại Đại hội I của Đảng (tháng 3/1935) và giữ cương vị này đến tháng 7/1936. Là Tổng Bí thư thứ hai của Đảng, sau đồng chí Trần Phú, ông có vai trò quan trọng trong việc củng cố, khôi phục hệ thống tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước sau những tổn thất nặng nề.

Người bạn đời và cũng là người đồng chí thân thiết của ông là đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai (1910–1941), tên thật là Nguyễn Thị Vịnh. Sinh ngày 30/9/1910 trong một gia đình viên chức, bà sớm dấn thân vào con đường cách mạng và trở thành một nữ chiến sĩ kiên trung. Trong suốt 15 năm hoạt động cách mạng (1926–1941), đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều đóng góp quan trọng cho Đảng. Đặc biệt, cuối năm 1937, khi mới 27 tuổi, bà được Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, trở thành một trong những lãnh đạo nổi bật của phong trào cách mạng tại Sài Gòn trong cao trào 1938–1939.

Về đời tư, tình yêu gắn liền với lý tưởng cách mạng của hai ông bà đã kết tinh thành một người con gái duy nhất. Theo báo Công an Nhân dân, con gái của cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai tên là Lê Nguyễn Hồng Minh, sinh năm 1939 và hiện sinh sống tại TP.HCM.

Tuy nhiên, hạnh phúc gia đình của họ ngắn ngủi trước sự khốc liệt của chiến tranh và sự đàn áp tàn bạo của thực dân. Theo báo Quân đội Nhân dân, ngày 22/6/1939, đồng chí Lê Hồng Phong bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn. Dù không đủ chứng cứ buộc tội, thực dân Pháp vẫn kết án ông 6 tháng tù và 3 năm cấm cư trú, sau đó đưa ông về quản thúc tại quê nhà Nghệ An vào ngày 23/12/1939.
Chưa dừng lại, tòa án thực dân Pháp tại Sài Gòn tiếp tục quy kết ông tội “hoạt động lật đổ” và yêu cầu dẫn độ. Ngày 30/1/1940, đồng chí Lê Hồng Phong bị bắt lần thứ hai, giam tại Khám Lớn Sài Gòn, đến cuối năm 1940 thì bị đày ra Côn Đảo.
Do bị tra tấn và hành hạ dã man, ngày 6/9/1942, đồng chí Lê Hồng Phong lâm bệnh nặng và anh dũng hy sinh tại nhà tù Côn Đảo khi mới 40 tuổi, để lại tấm gương sáng ngời về ý chí kiên cường của người cộng sản.