Vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 50 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, mở ra thêm cơ hội cho doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả dòng vốn này, cần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa...

Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá, chuyên gia chỉ ra điều cần thay đổi

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính) 9 tháng đầu năm 2026, tổng số vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (FDI) đạt kỷ lục 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm 2025. 

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, bên cạnh quy mô vốn FDI giải ngân, cần quan tâm đến nguồn hình thành dòng vốn này, trong đó có việc phân biệt vốn do nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam và vốn huy động từ các tổ chức tín dụng trong nước.

Theo ông Hiếu, việc làm rõ cơ cấu nguồn vốn sẽ giúp đánh giá đầy đủ hơn về dòng vốn FDI cũng như tác động đối với nền kinh tế.

Ông Hiếu nhận định, các doanh nghiệp FDI không chỉ đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến phục vụ xuất khẩu mà còn tham gia nhiều lĩnh vực khác như bất động sản, điện và hàng tiêu dùng. Đây là xu hướng tích cực, góp phần bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển các ngành.

Tuy nhiên, đối với lĩnh vực bất động sản, ông cho rằng cần có cơ chế giám sát phù hợp nhằm bảo đảm dòng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, hạn chế nguy cơ đầu cơ, đẩy giá và hình thành bong bóng bất động sản.

“Chúng ta chào mừng doanh nghiệp FDI đến với Việt Nam, nhưng không chấp nhận FDI bằng mọi giá”, TS Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh.

Đây cũng là quan điểm xuyên suốt của Chính phủ, không chấp nhận đầu tư bằng mọi giá. 

Ông cho hay, cách đây 30 năm, chúng ta thu hút FDI dựa vào lợi thế chi phí nhân công giá rẻ, tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt khoảng 5-10%. Đến nay, tỷ lệ nội địa hóa có ngành tăng lên khoảng 52%. Đây là một bước tiến đáng kể trong việc thu hút FDI của Việt Nam.

FDI nhat ban (2).jpg
Tỷ lệ nội địa hóa trong khu vực FDI còn thấp. 

Theo ông Hiếu, điều chúng ta cần ở FDI là họ đem vốn, công nghệ và cách quản lý vào Việt Nam. Cùng với đó, cần giảm sự lệ thuộc vào FDI. Đặc biệt, tỷ lệ nội địa hóa phải tăng từ mức hiện tại lên 60%, 70%, 80% và tới thời điểm nào đó là 90% như Trung Quốc đã làm được. 

Ông Hiếu dẫn chứng cách đây mấy chục năm khi Trung Quốc mời các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư, họ đặt điều kiện phải chuyển giao công nghệ. Đến nay Trung Quốc là một nước có công nghệ cao, một phần nhờ sự chuyển giao này. 

Doanh nghiệp Việt cần có chỗ đứng trong chuỗi cung ứng

Theo Tổng giám đốc SGS Việt Nam, Việt Nam không nên chỉ nhìn nhận doanh nghiệp FDI dưới góc độ thu hút vốn đầu tư, mà cần coi đây là động lực thúc đẩy nâng cao năng lực của chuỗi cung ứng trong nước. Qua đó, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam từng bước tham gia mạng lưới cung ứng toàn cầu.

Ông cho rằng, yếu tố then chốt để doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng quốc tế là xây dựng được niềm tin với các đối tác nước ngoài. Muốn trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực đáp ứng những yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế.

“Phần lớn khách hàng của chúng tôi tại Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp FDI, bao gồm những nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, thậm chí cấp 3 cho các tập đoàn lớn trên thế giới”, ông cho biết.

Theo vị này, các nhà mua hàng toàn cầu có xu hướng tiếp tục lựa chọn doanh nghiệp FDI làm nhà cung ứng bởi những doanh nghiệp này đã đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn sản phẩm quốc tế. Đây cũng là vấn đề doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mặc dù Việt Nam có dân số hơn 100 triệu người và một thị trường tiêu dùng nội địa tương đối lớn, nhưng theo ông Jackson Woo, phát triển thị trường trong nước và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu là hai câu chuyện khác nhau.

Do đó, bên cạnh việc thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng nội địa, cần hỗ trợ các nhà cung ứng Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế thông qua việc xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng niềm tin.

Khi hệ sinh thái liên kết đã được định hình, vấn đề mấu chốt tiếp theo là làm thế nào để nâng tầm thực chất năng lực của doanh nghiệp nội địa, giúp họ đủ sức gánh vác các mắt xích quan trọng.

Về điều này, ông Cha Ji Ho, Phó tổng giám đốc phụ trách Trung tâm Mua hàng, Samsung Việt Nam, chia sẻ trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cơ cấu mạnh mẽ, Samsung đã sớm chủ động gắn kết việc nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong nước với mục tiêu củng cố tính ổn định của chuỗi cung ứng tập đoàn.

Quá trình này được thực hiện bài bản qua các giai đoạn, từ củng cố nền tảng sản xuất (tư vấn cho 379 doanh nghiệp và đào tạo 406 chuyên gia từ 2015-2021) đến phát triển năng lực cốt lõi thông qua mô hình Nhà máy thông minh.

Chỉ riêng năm 2026, Samsung đã hỗ trợ thêm 14 doanh nghiệp, nâng tổng số lên 96 doanh nghiệp được chuẩn hóa mô hình này đồng thời đào tạo hàng trăm chuyên gia về khuôn mẫu thông minh và tự động hóa.

Theo ông Cha Ji Ho, trong giai đoạn tới, Samsung sẽ điều chỉnh chiến lược hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam theo ba hướng: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và triển khai có hệ thống hơn, phù hợp với định hướng của Nghị quyết 10 và Nghị quyết 280.

Cụ thể, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong nước sẽ được mở rộng về địa bàn, không chỉ tập trung tại Bắc Ninh và TPHCM mà còn triển khai tại Phú Thọ, Hải Phòng và Thái Nguyên.

Sự hỗ trợ cũng đi vào chiều sâu thông qua đào tạo tại hiện trường (OJT), xây dựng đội ngũ giảng viên nội bộ nhằm giúp doanh nghiệp Việt tự chủ cải tiến khi không còn chuyên gia ngoại.

Theo Tuân Nguyễn (VietNamNet)