Tôi cảm thấy mình có trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển khoa học công nghệ của nước nhà
Xin chúc mừng ông Hà Sơn Tùng vừa được Đại hội tín nhiệm bầu làm Ủy viên UB TƯ MTTQ Việt Nam. Là 1 trong số 17 Ủy viên là kiều bào, lại đang gánh vác khối lượng công việc nghiên cứu khổng lồ tại A*STAR (Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu quốc gia Singapore) – "đầu não" công nghệ của Singapore, cảm xúc của ông lúc này thế nào và điều gì thực sự thôi thúc ông bước ra khỏi phòng thí nghiệm để gánh vác thêm trọng trách này?
Trước khi có vinh dự được bầu vào Ủy viên UB TƯ MTTQ, tôi đã có thời gian dài hợp tác với các đơn vị nghiên cứu trong nước trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ cao. Tôi nghĩ rằng đây là một việc làm rất bình thường của một trí thức Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài. Là một người sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, tôi cảm thấy mình có trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển khoa học công nghệ của nước nhà. Tôi may mắn được làm việc trong một môi trường phát triển chuyên nghiệp tại Singapore và mong muốn làm một cầu nối cho sự hợp tác giữa hai nước. Với sự ra đời của nghị quyết 57 về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc kết nối giữa cộng đồng trí thức kiều bào để chung tay xây dựng những ngành công nghệ lõi chiến lược cho Việt Nam càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Để phát huy được hết nguồn lực to lớn từ hơn 6 triệu kiều bào Việt Nam ở nước ngoài – trong đó có rất nhiều người có trình độ cao, giữ vị trí trọng trách trong các tập đoàn, trung tâm nghiên cứu lớn trên thế giới và có thể có những đóng góp giá trị cho Việt Nam, tôi nghĩ rằng Việt Nam cần thêm những cầu nối để gắn kết được cộng đồng nghiên cứu khoa học, ĐMST trên toàn cầu. Đó cũng là lý do thôi thúc tôi tham gia vào Ban Liên Lạc cộng đồng người Việt Nam tại Singapore trước khi trở thành ủy viên MTTQ.

Nhiều người cho rằng chức danh Ủy viên MTTQ đôi khi mang tính "biểu tượng" đối với kiều bào. Ông có kế hoạch hành động cụ thể nào để biến tiếng nói của mình thành những đóng góp thực chất, cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ?
Nhiệm vụ của Ủy Viên MTTQ là kết nối, gắn kết cộng đồng cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Trước khi trở thành Ủy viên, tôi đã có nhiều năm gắn kết với khoa học nước nhà qua những dự án nghiên cứu khoa học cụ thể. Với vai trò mới, tôi hy vọng mình có thể trở thành một cầu nối để có thể thu hút nhiều hơn nữa những nhà khoa học, người làm công nghệ Việt Nam ở nước ngoài có cùng chí hướng với mình để góp phần hợp tác, hoặc trở về đóng góp cho sự phát triển KHCN của nước nhà. Gần đây, tôi đã cùng Ban Liên Lạc người Việt Nam tại Singapore đứng ra tổ chức Diễn đàn Trí thức và Đổi Mới Sáng Tạo Việt Nam tại Singapore với chủ đề: Kết nối tri thức Việt vì sự phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là một trong những chuỗi sự kiện mà tôi mong muốn thực hiện để thúc đẩy kết nối, hợp tác giữa Việt Nam và Singapore. Một trong những dự án tôi theo đuổi là thúc đẩy sự hợp tác giữa 2 quỹ nghiên cứu quốc gia Việt Nam (Nafosted) và Singapore (NRF) để có thể cùng nhau đưa ra một quỹ chung (joint grant call) để các nhóm nghiên cứu 2 nước có cơ sở pháp lý và quy chế cụ thể cho việc hợp tác khoa học một cách chính thống. Đây là điều mà Singapore đã làm với rất nhiều nước phát triển trên thế giới như Pháp, Đức, Mỹ, Nhật, v.v. Nếu Việt Nam có thể đạt được thỏa thuận hợp tác này, không chỉ các nhóm nghiên cứu tại Việt Nam có cơ hội tiếp cận với các cơ sở vật chất hiện đại và môi trường chuyên nghiệp tại Singapore mà các nhà quản lý Việt Nam cũng có thể học hỏi cách người Sing vận hành, lựa chọn và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu KHCN và ĐMST.
Việt Nam đang thiếu những người có tầm nhìn vĩ mô, những kiến trúc sư trưởng để hoạch định các kế hoạch phát triển KHCN và ĐMST lâu dài
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, là 1 nhà khoa học ông kì vọng gì ở Nghị quyết này và theo ông cần làm gì để thực sự đưa Nghị quyết này vào cuộc sống?
Đây là một chủ trương đúng đắn và kịp thời của Bộ Chính trị. Mặc dù trước đó đã có nhiều chủ trương về phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam nhưng nghị quyết 57 đã thực sự tạo được niềm tin về sự quyết liệt và mong muốn thực hiện của Đảng và nhà nước trong bối cảnh Việt Nam không thể chậm trễ hơn nếu muốn trở thành một nước phát triển và có thu nhập cao. Hiện nay với sự phát triển của AI, robotic và các ngành trọng yếu khác như công nghệ sinh học, lượng tử, nếu chúng ta vẫn duy trì cách thực hiện chậm chạp và hành chính như cũ, chúng ta sẽ không bao giờ có thể lên được chuyến tàu công nghệ và sẽ mãi mãi bị bỏ lại phía sau. Để thực sự đạt được những điều mà nghị quyết mong muốn, cần có sự cải tổ mạnh mẽ của các bộ ngành, đặc biệt trong tư duy quản trị, và cải cách các thủ tục hành chính rườm rà làm chậm trễ các kế hoạch triển khai. Việc thống nhất giữa các Bộ, Ngành và có một kế hoạch triển khai tổng thể về các ngành công nghệ chiến lược cũng là một yếu tố rất quan trọng. Đơn cử như cách Singapore thực hiện chiến lược bán dẫn của mình. Ủy Ban kinh tế nhà nước EDB là cơ quan vạch ra chiến lược tầm cao và là nơi điều phối các nguồn lực trong nước, thu hút các nguồn lực nước ngoài. Từ đây các kế hoạch về đào tạo nhân lực được giao cho Bộ Giáo dục, kế hoạch triển khai nghiên cứu được giao cho Bộ Thương mại và Công nghiệp. Nhờ đó sự phối hợp 3 bên gồm trường đại học, viện nghiên cứu, và doanh nghiệp được thực hiện xuyên suốt với sự điều phối chiến lược từ EDB và các bộ liên quan. Một vấn đề nữa mà Việt Nam cần chú trọng đó chính là nguồn lực con người để thực hiện các chủ trương này. Cái Việt Nam đang thiếu là những người có tầm nhìn vĩ mô, những kiến trúc sư trưởng để hoạch định các kế hoạch phát triển KHCN và ĐMST lâu dài cho mình chứ không chỉ những dự án ngắn hạn. Chỉ có những người như vậy mới có thể giúp chúng ta xây dựng một nền móng khoa học công nghệ lâu dài, phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước cho 20, thậm chí 50 năm về sau. Điều thuận lợi cho Việt Nam là số lượng kiều bào trí thức đông đảo, những người có tinh thần yêu nước và sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển của nước nhà. Đây cũng là cách mà Hàn Quốc và Trung Quốc dựa vào để bứt phá về khoa học công nghệ của họ. Hiện Việt Nam có rất nhiều trí thức giỏi, có tầm và đang công tác ở những trung tâm nghiên cứu và tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới. Chúng ta cần có cơ chế (hiện đã và đang triển khai) và cách tiếp cận phù hợp để thu hút được họ về cống hiến. Ngoài vấn đề về chính sách đãi ngộ, cung cấp nguồn lực, việc tạo niềm tin cho họ trở về cũng là mục tiêu mà các nhà quản lý cần chú trọng. Niềm tin ở đây là sự nhất quán trong việc đưa ra chiến lược và cách thực hiện ở cấp cơ sở, tình trạng đầu voi đuôi chuột trong việc thực hiện các dự án tầm quốc gia. Chỉ khi các nhà quán lý, quản trị có tầm nhìn và sự quyết tâm đổi mới, các kiến trúc sư trưởng mới yên tâm hoạch định những kế hoạch dài hơi của mình.

Từ lăng kính của một nhà khoa học đang trực tiếp hợp tác với trong nước, ông chờ đợi Nghị quyết 57 sẽ mang lại những đột phá nào cho công việc nghiên cứu của ông cũng như chuyên ngành này tại Việt Nam?
Như tôi đã trao đổi, nghị quyết 57 tạo ra định hướng cho sự phát triển KHCN, ĐMST cho Việt Nam. Cái mà tôi chờ đợi là những hướng dẫn cụ thể, những nghị định, luật được đưa ra để đưa vấn đề thực thi nghị quyết 57 vào thực tế. Do vậy tôi cảm thấy rất phấn khởi khi sự ra đời của nghị định 92 của Thủ tướng Chính phủ và Luật Thủ đô mới được thông qua đã phần nào tạo ra cơ chế và hành lang pháp lý để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao người Việt Nam tại nước ngoài. Bản thân tôi rất mong muốn các bộ ngành sẽ vào cuộc quyết liệt hơn nữa để đưa ra những chương trình nghiên cứu KHCN và ĐMST cụ thể và hiệu quả. Vừa qua tôi được tham gia cuộc họp của bộ KHCN với các chuyên gia người Việt Nam hàng đầu trên thế giới cùng đóng góp cho việc xây dựng 12 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về những ngành công nghệ chiến lược. Đây là một sự cầu thị đáng khích lệ của bộ KHCN và cho thấy những nhà quản lý đang chú trọng tính hiệu quả trong việc đầu tư nghiên cứu KHCN, đặc biệt là áp dụng các bài học trên thế giới vào việc xây dựng đề án của mình. Việc xây dựng những trung tâm nghiên cứu và các đề án phát triển KHCN có sự tham vấn và tham gia của các chuyên gia người Việt trên thế giới sẽ tạo tiền đề cho sự hợp tác về sau và tạo cho tôi hy vọng về tính hiệu quả của các đề án này.
Việc thu hút được nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài không phải nằm vào khâu đãi ngộ
Nhiều người nhìn nhận việc các nhà khoa học giỏi như ông làm việc ở nước ngoài là sự 'chảy máu chất xám' đáng tiếc cho đất nước. Nhưng nếu ngày mai có một làn sóng hàng ngàn nhà khoa học người Việt ở nước ngoài quyết định xách vali về nước như kỳ vọng của dư luận, theo ông, hệ sinh thái nghiên cứu và cơ chế đãi ngộ của chúng ta hiện nay đã thực sự 'đủ sức chứa' và 'đủ sức bật' cho lực lượng này chưa?"
Theo tôi, việc thu hút được nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài không phải nằm vào khâu đãi ngộ - mặc dù đây cũng là một yếu tố cần tính đến trong chiến lược của các nhà quản lý (bằng chứng là điều này đã được giải quyết phần nào qua nghị định 92 của TTCP và luật thủ đô mới được thông qua). Để thu hút được những người thực sự giỏi và có tầm, việc quan trọng nhất là các nhà quản lý phải cho họ thấy tầm nhìn của Chính phủ và sự tin tưởng vào họ bằng cách trao quyền hoạch định và quyết định cho họ. Đa phần những trí thức Việt Nam ở nước ngoài đều có lòng yêu nước và mong muốn được đóng góp cho nước nhà, do vậy nếu được trao cơ hội phù hợp, tôi nghĩ mọi người sẵn sàng chấp nhận những đãi ngộ ít hơn cái họ đang được nhận ở nước ngoài nhưng bù lại, họ được chung tay gây dựng một di sản cho nước nhà – cái mà vật chất không thể mua được.

Trong kỷ nguyên số - nơi mọi giới hạn địa lý bị xóa nhòa, ông nhìn nhận thế nào về khái niệm 'chảy máu chất xám'? Phải chăng chúng ta nên ngừng than phiền về 'chảy máu' mà nên bàn về cách tạo ra một 'mạng lưới tuần hoàn chất xám' toàn cầu?"
Tôi đồng ý với việc khái niệm “chảy máu chất xám” đã lỗi thời và không còn phù hợp với thời đại mới. Thực ra ngay cả trước đây, khái niệm “chảy máu chất xám” cũng phần nào bị hiểu sai về bản chất. Mọi người cho rằng việc những người Việt giỏi rời Việt Nam là chảy máu chất xám nhưng thực sự bản chất là sự phát triển và điều kiện trong nước không theo kịp với khả năng của họ. Nếu đặt ra một giả thiết là chúng ta không cho những người giỏi đó rời khỏi Việt Nam, tôi không nghĩ điều đó sẽ có lợi cho sự phát triển của nước nhà mà ngược lại sẽ làm mai một những nguồn lực trí thức của đất nước mà khi điều kiện cho phép, họ có thể trở về cùng chung tay xây dựng. Chính điều này sẽ giúp Việt Nam có được những cầu nối với dòng chảy công nghệ của thế giới và tiền đề để chúng ta tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bằng chứng là rất nhiều những doanh nhân, những nhà nghiên cứu thành đạt của Việt Nam hiện nay đa phần là những người ra đi để trở về phát triển đất nước. Tôi hy vọng những chính sách sắp tới của Việt Nam sẽ ngày càng tạo ra được những sự “trở về” thành công đó để đưa Việt Nam bứt phá về KHCN và ĐMST trong kỷ nguyên mới.
Việt Nam cần cơ chế chính sách minh bạch và chiến lược phù hợp để phát triển KHCN và ĐMST
Với kinh nghiệm làm việc tại môi trường quốc tế, ông thấy Việt Nam cần tháo gỡ những "nút thắt" nào (về cơ chế, tư duy, hoặc đãi ngộ) để thu hút và phát huy mạnh mẽ hơn nữa nguồn lực trí thức, khoa học công nghệ?
Theo tôi, Việt Nam cần tạo ra được một môi trường lành mạnh về phát triển KHCN và ĐMST bằng các cơ chế chính sách minh bạch để mọi người có thể cạnh tranh dựa trên năng lực của mình. Đây cũng là việc tiên quyết để chọn ra được nhân sự đúng và phù hợp nhất cho công cuộc phát triển của nước nhà. Nếu chọn sai nhân sự, đặc biệt là nhân sự cấp cao, những kỹ sư trưởng cho các ngành công nghệ chiến lược, Việt Nam sẽ đánh mất cơ hội của mình. Khi có được sự minh bạch trong chính sách, việc tiếp theo là cải cách các thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho các dự án được thực hiện một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Đặc biệt trong thời đại AI và kỷ nguyên số, với các công nghệ có thể lỗi thời theo tháng, tốc độ thực hiện các dự án về công nghệ ĐMST lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Nếu các nhà quản lý không nhận thức được điều này, họ sẽ là những trở ngại chính cho việc thực thi nghị quyết 57 này.

Thưa ông tôi là một người ngoại đạo về khoa học, Tôi thấy những nhà hoạch định chính sách khoa học ở Việt Nam rất mạnh, kịp thời trong việc nắm bắt trend, xu hướng. Ví dụ như vài năm trước chúng ta liên tục nói đến cách mạng công nghiệp 4.0, rồi blockchain, sau đó là đến chuyển đổi xanh, xe điện, gần đây là Big data, AI, chuyển đổi số…Nhưng tôi sợ rằng khi một thứ đã thành trend cũng có nghĩa là thế giới đã đi rất xa so với chúng ta. Nếu chúng ta chỉ đi theo trend, xu hướng thì chúng ta luôn đi sau thế giới, khó có thể vươn lên vị thế Top đầu, dẫn dắt, cạnh tranh toàn cầu? Ông nghĩ sao về điều này? Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm về chiến lược phát triển khoa học, công nghệ của Singapore. Họ có bước đi nào để trở thành nhà thiết lập cuộc chơi trong khoa học, công nghệ thay vì chỉ đi theo không?
Singapore là một quốc gia thực dụng. Họ phát triển đất nước theo mô hình của một công ty tư bản mà thủ tướng là CEO của công ty đó. Mọi quyết định, chính sách đều phải tính đến tính hiệu quả về mặt kinh tế, về sự phát triển bền vững của quốc gia. Những chính trị gia của Singapore là những người được trả lương cao nhất thế giới nhưng cũng phải chịu những chế tài và áp lực quản lý khắt khe nhất. Do tính thực dụng, những chiến lược họ đưa ra đều phải phù hợp với khả năng nội lực trong nước và luôn đặt mình vào dòng chảy toàn cầu. Họ không đặt ra những mục tiêu xa vời, viển vông mà đưa ra những mục tiêu khả dĩ nhất và lập kế hoạch chi tiết để đạt được những mục tiêu đó. Những chiến lược của họ đưa ra đều có tầm nhìn dài hạn nhưng mục tiêu ngắn và trung hạn đều rất rõ ràng và bắt buộc phải đạt được. Điều này giúp họ xây dựng được một nền tảng vững chắc cho việc thực thi chiến lược một cách hiệu quả. Một chiến lược mà Việt Nam có thể học hỏi từ những nước có bước phát triển thần tốc về KHCN ĐMST như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc đó là sự đầu tư trọng điểm. Họ xác định được những ngành mũi nhọn trọng tâm và đầu tư cho một số ít những đơn vị hàng đầu chứ không dàn trải. Về KHCN, chỉ cần một đơn vị làm tốt, làm sâu sẽ có giá trị hơn nhiều so với 10 đơn vị làm ở mức trung bình. Một điểm nữa mà Việt Nam cần áp dụng trong việc phát triển các dự án nghiên cứu khoa học là đưa ra được những mục tiêu rõ ràng và phù hợp với tính chất của dự án (Ví dụ: dự án ứng dụng khác với nghiên cứu cơ bản). Những mục tiêu này phải thống nhất với mục tiêu chung của chiến lược quốc gia và cần có những đánh giá độc lập để loại bỏ những dự án yếu kém một cách kịp thời, tránh gây lãng phí nguồn lực.
TS Hà Sơn Tùng, sinh năm 1985 tại Phú Thọ, từng theo học trường chuyên Hùng Vương Phú Thọ. Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo cử nhân tài năng tại đại học Khoa Học Tự Nhiên, ĐHQG Hà Nội, ông có hơn 6 năm học tập và nghiên cứu tại Hàn Quốc về công nghệ vật liệu nano. Năm 2017, ông tốt nghiệp tiến sĩ về vật lý ứng dụng tại đại học kỹ thuật Nanyang, Singapore và sau đó công tác tại viện nghiên cứu quốc gia Singapore, A*STAR. Hiện ông đang đảm nhiệm vị trí chuyên viên cao cấp, phó trưởng khoa công nghệ quang học tiên tiến tại A*STAR kiêm trưởng nhóm nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu bán dẫn quốc gia Singapore (NSTIC). Hiện nay những nghiên cứu của ông tập trung vào mảng công nghệ quang học siêu cấu trúc và quang lượng tử cho những ứng dụng truyền dẫn thông tin chip-to-chip (Co-packing Optics), công nghệ hiển thị cho kính thực tế tăng cường (AR glasses), AI camera. Điều đặc biệt trong công nghệ quang học mà ông đang nghiên cứu là việc sử dụng những quy trình sản xuất của ngành bán dẫn dựa trên tiến trình 40 nm, không quá tốn kém và rất phù hợp cho Việt Nam.