Trong một thập kỷ, tuyển sinh đại học liên tục thay đổi từ kỳ thi chung, phương thức xét tuyển đến tổ hợp môn và cách tính điểm, khiến thí sinh nhiều lần phải thích ứng với những quy định mới.

Một thập kỷ liên tục điều chỉnh

Trong khoảng 10 năm qua, tuyển sinh đại học tại Việt Nam gần như năm nào cũng xuất hiện những thay đổi đáng kể. Quá trình này gắn với lộ trình tự chủ đại học và việc triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông mới, nhưng vấn đề được đặt ra là nhiều thay đổi chưa đi kèm một lộ trình đủ dài để học sinh chuẩn bị.

Giai đoạn 2015-2017 đánh dấu bước chuyển từ mô hình “ba chung”, gồm chung đề, chung đợt và chung kết quả, sang kỳ thi THPT Quốc gia. Kỳ thi đại học do Bộ GD&ĐT tổ chức được thay thế bằng kỳ thi “2 trong 1”, vừa sử dụng kết quả để xét tốt nghiệp THPT, vừa phục vụ tuyển sinh đại học.

Năm 2015, việc thay đổi phương thức xét tuyển khiến phụ huynh và thí sinh liên tục rút, nộp hồ sơ tại các trường đại học. Đến năm 2016, quy trình tiếp tục được điều chỉnh bằng việc giới hạn số trường đăng ký. Một năm sau, thí sinh được đăng ký không giới hạn số nguyện vọng xét tuyển.

Từ năm 2018 đến 2022, hàng loạt quy định kỹ thuật tiếp tục được thay đổi, trong đó có chấm thi, mã hóa bài thi trắc nghiệm và quy trình giám sát sau sự cố gian lận thi cử năm 2018. Chính sách điểm ưu tiên khu vực cũng được điều chỉnh.

Năm 2020, kỳ thi THPT Quốc gia được chuyển thành kỳ thi tốt nghiệp THPT, đồng thời quyền tự chủ tuyển sinh được trao mạnh hơn cho các trường đại học. Từ đây, các phương thức xét tuyển bằng học bạ và chứng chỉ quốc tế như IELTS, SAT phát triển nhanh.

Đến năm 2023, cách tính điểm ưu tiên tiếp tục thay đổi. Thí sinh đạt từ 22,5 điểm trở lên trên thang điểm 30 bắt đầu được áp dụng mức điểm ưu tiên giảm dần theo tuyến tính.

Giai đoạn 2024-2026 tiếp tục chứng kiến nhiều điều chỉnh để phù hợp Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Cấu trúc kỳ thi tốt nghiệp THPT được thay đổi với 2 môn bắt buộc là Toán, Ngữ văn và 2 môn lựa chọn. Hàng loạt trường đại học phải xây dựng lại các tổ hợp xét tuyển truyền thống như A00, B00, D01.

Cùng với đó, việc xét tuyển sớm được siết chặt, các tổ hợp không liên quan đến ngành đào tạo bị hạn chế, quy đổi điểm giữa những phương thức xét tuyển được chuẩn hóa. Mức điểm cộng từ các tiêu chí như chứng chỉ IELTS, học sinh giỏi quốc gia hay học sinh giỏi tỉnh cũng được điều chỉnh.

28-1790556074-tuyen-sinh-dai-hoc-10-nam-nhung-thay-doi-lien-tuc-va-bai-toan-thieu-lo-trinh
Thí sinh tìm hiểu thông tin tuyển sinh ĐH năm 2026 tại Hà Nội. Ảnh: Tiền Phong.

Từ tự chủ đến “trăm hoa đua nở” phương thức tuyển sinh

Việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học tạo ra thay đổi lớn trong cách tuyển sinh. Nếu trước đây điểm của một kỳ thi chung gần như là chìa khóa chính để bước vào giảng đường, thì sau khi được tự chủ, các trường bắt đầu phân bổ chỉ tiêu cho nhiều phương thức khác nhau.

Cùng với đó, nhiều kỳ thi riêng xuất hiện. Khi đề thi tốt nghiệp THPT ngày càng hướng nhiều hơn tới mục tiêu hoàn thành chương trình phổ thông, khả năng phân hóa ở nhóm điểm cao bị thu hẹp, các trường tốp đầu phải tìm thêm công cụ để lựa chọn thí sinh.

Các kỳ thi đánh giá năng lực do hai Đại học Quốc gia tổ chức, kỳ thi đánh giá tư duy của Đại học Bách khoa Hà Nội cùng các kỳ thi chuyên biệt của nhóm trường sư phạm, công an, quân đội đã làm thay đổi đáng kể bức tranh tuyển sinh.

Để gia tăng cơ hội trúng tuyển, nhiều thí sinh phải tham gia ít nhất hai kỳ thi, trong đó có kỳ thi tốt nghiệp THPT và một kỳ thi riêng.

Song song với các kỳ thi trong nước, chứng chỉ quốc tế cũng ngày càng được sử dụng trong tuyển sinh. IELTS, TOEFL, SAT hay ACT trở thành những tiêu chí được các trường đưa vào phương án xét tuyển. Tuy nhiên, bảng quy đổi điểm liên tục thay đổi khiến cùng một mức chứng chỉ nhưng mỗi mùa tuyển sinh có thể được áp dụng theo công thức khác nhau.

Không chỉ phương thức xét tuyển, hệ thống tổ hợp môn cũng liên tục được các trường điều chỉnh. Áp lực cạnh tranh nguồn tuyển trong điều kiện tự chủ tài chính và hội nhập học thuật được xem là một trong những nguyên nhân khiến các cơ sở đào tạo không thể duy trì cách tuyển sinh cố định.

Cần một lộ trình đủ dài để học sinh chuẩn bị

PGS.TS Vũ Thị Hiền, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Ngoại thương, cho rằng việc thay đổi chính sách và quy chế tuyển sinh là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, theo bà, mỗi chính sách cần được dự báo và chuẩn bị trước, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi của học sinh.

Với những thay đổi nhỏ, việc điều chỉnh theo từng năm có thể thực hiện. Nhưng đối với thay đổi lớn, bà Hiền cho rằng cần một lộ trình khoảng 3 năm. Nếu quy chế mới được áp dụng sau khoảng thời gian này, học sinh có thể chuẩn bị từ lớp 10 những năng lực cần thiết cho quá trình dự tuyển.

Theo quan điểm này, tuyển sinh cần hướng đến việc đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với từng chương trình đào tạo, đồng thời gắn với định hướng nghề nghiệp.

Một hiệu trưởng trường đại học tại Hà Nội cũng cho rằng tuyển sinh đại học không thể được thực hiện theo cách “ăn đong”. Bộ GD&ĐT cần tập trung đúng vai trò quản lý nhà nước, trong khi các trường thực hiện quyền tự chủ tuyển sinh theo quy định.

Luật Giáo dục đại học đã phân định quyền hạn theo hướng giảm cơ chế quản lý bằng mệnh lệnh hành chính. Bộ GD&ĐT không còn áp đặt điểm sàn chung cho toàn hệ thống, không quyết định chi tiết chỉ tiêu từng ngành, ngoại trừ ngành sư phạm, cũng không bắt buộc các trường sử dụng một phương thức tuyển sinh thống nhất.

Tuy nhiên, thực tế những năm qua cho thấy cơ quan quản lý vẫn phải liên tục điều chỉnh quy chế để xử lý các vấn đề phát sinh từ quá trình tự chủ tuyển sinh.

Khi các trường đẩy mạnh xét tuyển sớm, hệ thống lọc ảo toàn quốc được triển khai từ năm 2022. Khi điểm chuẩn có lúc chạm mức 30/30 và xuất hiện tình trạng thí sinh đạt điểm tuyệt đối vẫn không trúng tuyển do điểm cộng ưu tiên, cách tính điểm ưu tiên được điều chỉnh vào năm 2023.

Gần đây, việc kiểm soát xét tuyển sớm và chuẩn hóa quy đổi điểm giữa các phương thức cũng tiếp tục được thực hiện nhằm bảo đảm quyền tiếp cận đại học của học sinh, trong đó có học sinh ở những khu vực khó khăn.

Các trường đại học mong muốn quy chế tuyển sinh có tính ổn định hơn. Với những thay đổi mang tính căn bản, một lộ trình đủ dài sẽ giúp học sinh chủ động chuẩn bị thay vì phải liên tục thích nghi.

Trong quá trình này, cơ quan quản lý phải cân bằng giữa quyền tự chủ của các trường với yêu cầu bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.

Việc liên tục điều chỉnh quy định cũng cho thấy những thách thức trong công tác dự báo và hoạch định chính sách. Khi thay đổi được công bố sát thời điểm áp dụng thay vì triển khai theo một lộ trình dài hạn, áp lực thích ứng phần lớn dồn lên người học.

Trong khi đó, kỳ thi tốt nghiệp THPT ngày càng giảm vai trò phân hóa ở nhóm điểm cao đã góp phần khiến các trường phải tìm thêm công cụ tuyển chọn, kéo theo sự phát triển mạnh của các kỳ thi riêng và tạo thêm chi phí cho thí sinh, gia đình và xã hội.

QT (SHTT)