Không ít người sinh ra và lớn lên tại Thủ đô vẫn chưa thực sự hiểu hết nguồn gốc cũng như tầng nghĩa lịch sử của hai chữ “Hà Nội” – tên gọi gắn liền với vận mệnh quốc gia suốt gần hai thế kỷ qua.

Theo sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội, năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính lớn, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ cùng các phủ, huyện lân cận như Từ Liêm, Ứng Hòa, Lý Nhân, Thường Tín để thành lập một đơn vị hành chính mới, đặt tên là tỉnh Hà Nội. Trung tâm của tỉnh chính là vùng kinh thành Thăng Long xưa.

Giải thích ý nghĩa tên gọi này, nhà văn Tô Hoài trong cuốn 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội cho biết: “Hà” nghĩa là sông, “Nội” là phía trong. Hà Nội có thể hiểu là vùng đất nằm trong vòng bao bọc của sông ngòi, cụ thể là giữa hai con sông lớn – sông Hồng và sông Đáy. Cách đặt tên phản ánh rõ đặc điểm địa lý cũng như tư duy không gian của người xưa.

ha-noi-1
Chân dung vua Minh Mạng.

Mười lần đổi tên trong chính sử

Trải qua hơn một thiên niên kỷ, vùng đất Hà Nội ngày nay từng mang nhiều tên gọi khác nhau, gắn với những biến động lớn của lịch sử dân tộc. Theo cuốn Địa danh và chủ quyền lãnh thổ (NXB Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam), Hà Nội có 10 tên gọi chính quy được ghi chép trong sử sách, do các triều đại phong kiến và Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra.

Các tên gọi đó gồm: Long Đỗ, Tống Bình, Đại La (hay Đại La Thành), Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh, Bắc Thành, Thăng Long (với cách hiểu mới) và cuối cùng là Hà Nội. Ngoài ra, trong dân gian và một số thư tịch còn xuất hiện những tên không chính thức như Trường An, Long Biên, Long Thành…

ha-noi-2
Hồ Gươm - một trong những biểu tượng của Hà Nội. Ảnh: Internet

Mốc son quan trọng đầu tiên là mùa thu năm Canh Tuất (1010), khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên kinh thành thành Thăng Long. Kể từ đó, Thăng Long – Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, văn hóa của quốc gia, chứng kiến bao thăng trầm, biến cố suốt các triều đại.

Theo Nguyệt san Sự kiện & Nhân chứng (Báo Quân đội Nhân dân), tên gọi Thăng Long ban đầu mang ý nghĩa “rồng bay lên”, biểu trưng cho khát vọng vươn lên, mong muốn thái bình, thịnh trị và cuộc sống no ấm của người Việt. Đến năm 1802, khi vua Gia Long dời kinh đô vào Phú Xuân (Huế), chữ “Long” vẫn được giữ nhưng chuyển sang nghĩa “thịnh vượng”, thay cho hình tượng “rồng” vốn gắn với nơi ở của hoàng đế.

ha-noi-5
Ngôi nhà ngoài cùng bên phải ảnh chính là nhà số 4 nơi cư trú của gia đình cụ Cử Lương Văn Can. Ngôi nhà 2 tầng có lan can màu trắng cách 2 ngôi nhà tiếp theo là nhà số 10 - nơi mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục. 
ha-noi-6
Quảng trường Chavassieux và phủ Thống sứ Bắc Kỳ (nay là vườn hoa Diên Hồng). Ảnh tư liệu
ha-noi-7
Phố Hà Trung năm 1953. Ảnh : Georges Azambre

Hà Nội chính thức trở thành Thủ đô

Theo Trung tâm Lưu trữ quốc gia, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc lựa chọn Hà Nội làm nơi diễn ra sự kiện lịch sử trọng đại này cho thấy định hướng rõ ràng của Chính phủ Cách mạng lâm thời về vai trò Thủ đô của Hà Nội trong Nhà nước mới.

Điều đó được khẳng định bằng Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945. Tại khoản 12, điều 69, văn bản nêu rõ việc triệu tập Quốc dân Đại hội tại “Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” – lần đầu tiên cụm từ này xuất hiện trong một văn bản pháp lý chính thức của Chính phủ.

ha-noi-3
Văn Miếu Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam

Sau đó, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (2/3/1946) và đặc biệt là Hiến pháp năm 1946, vị thế Thủ đô của Hà Nội được ghi nhận rõ ràng. Điều 3 của Hiến pháp khẳng định: “Thủ đô đặt ở Hà Nội”.

Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI vào tháng 7/1976, Hà Nội tiếp tục được xác định là Thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không chỉ là trung tâm chính trị – hành chính, Hà Nội còn được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình” năm 1999 và được phong tặng danh hiệu “Thủ đô anh hùng” vào năm 2000.

Theo An An (SHTT)