Một phụ nữ ở TP.HCM không thành công trong việc yêu cầu hoàn trả 67 triệu đồng tiền đặt cọc sau khi ký hợp đồng “sở hữu kỳ nghỉ” với một doanh nghiệp kinh doanh nghỉ dưỡng tại Khánh Hòa.

Theo hồ sơ vụ việc, vào tháng 11/2018, bà C. ký hợp đồng tham gia chương trình sở hữu kỳ nghỉ với Công ty V., lựa chọn quyền nghỉ dưỡng tại một căn hộ loại A vào tuần thứ 17 hằng năm. Sau khi hoàn tất thủ tục, bà đã thanh toán tổng cộng 67 triệu đồng tiền đặt cọc.

Sau đó, bà C. cho rằng nội dung hợp đồng không tương đồng với những thông tin được giới thiệu và quảng bá trước khi ký kết. Từ đó, bà khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu và buộc doanh nghiệp hoàn trả toàn bộ số tiền đã nộp.

Nguyên đơn lập luận rằng tại thời điểm giao dịch được xác lập, dự án nghỉ dưỡng vẫn đang trong quá trình xây dựng và chưa đáp ứng các điều kiện để kinh doanh dịch vụ lưu trú. Bà cũng cho rằng cách sử dụng tên gọi “sở hữu kỳ nghỉ” có thể khiến khách hàng hiểu nhầm về quyền sở hữu thực tế, đồng thời đặt nghi vấn đối với việc định giá hợp đồng bằng USD cũng như phương thức xử lý khoản tiền đặt cọc.

13-1781306195-khach-hang-mat-quyen-doi-lai-tien-sau-tranh-chap-hop-dong-so-huu-ky-nghi-tai-khanh-hoa
Ảnh minh họa: VietNamNet

Ở chiều ngược lại, đại diện Công ty V. khẳng định doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2013 và triển khai mô hình chia sẻ quyền nghỉ dưỡng theo thông lệ quốc tế. Theo doanh nghiệp, khách hàng chỉ mua quyền sử dụng dịch vụ nghỉ dưỡng trong tương lai chứ không phải quyền sở hữu bất động sản. Nội dung này đã được giải thích rõ trong các buổi giới thiệu sản phẩm, bao gồm cả thời điểm bà C. tham dự.

Doanh nghiệp cũng cho biết bà C. hoàn toàn nhận thức được dự án chưa hoàn thiện khi ký hợp đồng và đã tự nguyện thực hiện việc đặt cọc. Khu nghỉ dưỡng sau đó chính thức đi vào hoạt động từ cuối năm 2019 và đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định.

Tại phiên xét xử sơ thẩm diễn ra vào tháng 11/2020, TAND TP Nha Trang đã bác yêu cầu của bà C. về việc tuyên hợp đồng vô hiệu và hoàn trả số tiền 67 triệu đồng. Không đồng tình với phán quyết này, bà tiếp tục kháng cáo, cho rằng doanh nghiệp đã cung cấp thông tin chưa chính xác và bản chất tranh chấp chưa được xác định đúng.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, TAND tỉnh Khánh Hòa nhận định “hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” thực chất là một hợp đồng cung cấp dịch vụ lưu trú, không phải giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu bất động sản. Hội đồng xét xử cho rằng nguyên đơn biết rõ dự án đang trong giai đoạn xây dựng nhưng vẫn tự nguyện tham gia để được sử dụng dịch vụ trong tương lai.

Tòa án xác định hợp đồng được giao kết trên cơ sở tự nguyện, các bên có đầy đủ năng lực pháp lý và không xuất hiện căn cứ nào cho thấy giao dịch vô hiệu. Đồng thời, việc giá trị hợp đồng được thể hiện bằng USD trong giấy xác nhận đặt chỗ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch, bởi các khoản thanh toán thực tế cũng như hóa đơn đều được thực hiện bằng đồng Việt Nam.

Đối với khoản 67 triệu đồng đã nộp, tòa nhận định các bên đã thống nhất chuyển số tiền này thành một phần nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, vì vậy không có cơ sở pháp lý để buộc doanh nghiệp hoàn trả.

Trên cơ sở đó, TAND tỉnh Khánh Hòa quyết định bác toàn bộ nội dung kháng cáo của bà C. và giữ nguyên bản án sơ thẩm, khép lại vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ kéo dài nhiều năm.

Biên Thùy (SHTT)