Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất rộng 2.700m², vì cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của bên bán, ông S. đã cho gia đình bà B. dựng chòi ở tạm. Tuy nhiên, từ sự giúp đỡ ban đầu, một vụ tranh chấp đất đai kéo dài đã phát sinh, buộc ông phải ròng rã theo đuổi kiện tụng để đòi lại quyền sử dụng đất.

Theo trình bày của ông S., năm 2002, vợ chồng ông mua lại thửa đất trồng lúa tại tỉnh Trà Vinh (cũ) của vợ chồng bà B. với giá 53 triệu đồng. Việc chuyển nhượng được lập thành văn bản, có người làm chứng và được UBND xã xác nhận theo đúng quy định. Một năm sau, ông S. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích.

Sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý, gia đình ông S. sử dụng đất ổn định để sản xuất nông nghiệp, đầu tư xây dựng hàng rào, chuồng trại và ao nuôi cá. Thấy gia đình bà B. gặp nhiều khó khăn, ông cho phép họ dựng một căn chòi nhỏ trên phần đất đã chuyển nhượng để ở tạm.

Tuy nhiên, theo ông S., lợi dụng việc ông ít trực tiếp quản lý đất, vợ chồng bà B. dần lấn chiếm, xây dựng nhà ở kiên cố. Khi ông quay lại sử dụng đất thì bị ngăn cản, từ đó tranh chấp nổ ra. Ông S. khởi kiện, yêu cầu bên kia trả lại phần đất bị lấn chiếm.

30-1769728986-cho-o-nho-vi-thuong-nguoi-chu-dat-vuong-tranh-chap-keo-dai-suot-nhieu-nam.jpg
Ảnh minh hoạ

Tại tòa sơ thẩm, bà B. cho rằng vợ chồng bà chỉ bán 2.000m² đất, phần diện tích còn lại vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình. Bà trình bày do không biết chữ nên chỉ điểm chỉ vào giấy viết tay và giao sổ đỏ cho ông S. làm thủ tục sang tên phần đất đã bán. Nhiều năm sau, khi làm hồ sơ nghiệm thu nhà tình nghĩa, bà mới phát hiện ông S. đứng tên toàn bộ thửa đất.

Từ đó, bà B. phản tố, đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng, hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông S. và công nhận quyền sử dụng phần đất gia đình đang sinh sống.

Trong bản án sơ thẩm ngày 29/2/2024, TAND huyện Châu Thành xác định hợp đồng chuyển nhượng được lập đúng trình tự, có chứng thực hợp pháp. Lời khai của người làm chứng cũng cho thấy vợ chồng bà B. biết rõ và đồng ý chuyển nhượng toàn bộ thửa đất. Phía bà B. không xuất trình được tài liệu chứng minh việc chỉ bán một phần diện tích.

Tuy nhiên, xét hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn của gia đình bà B., ngôi nhà hiện tại là nơi ở duy nhất và được xây dựng từ nguồn hỗ trợ của địa phương, tòa án quyết định giải quyết theo hướng hài hòa lợi ích. Theo đó, vợ chồng bà B. được tiếp tục sử dụng 58,4m² đất nơi có căn nhà tình nghĩa và chuồng trại, đồng thời phải thanh toán cho ông S. số tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng diện tích này. Các yêu cầu phản tố khác không được chấp nhận.

Không đồng ý với phán quyết, cả hai bên đều kháng cáo. Ông S. yêu cầu buộc di dời toàn bộ nhà cửa để trả lại đất, trong khi bà B. tiếp tục đề nghị công nhận quyền sử dụng đất và hủy một phần sổ đỏ của ông S.

Xét xử phúc thẩm, TAND tỉnh Trà Vinh (nay là TAND tỉnh Vĩnh Long) khẳng định ông S. là người sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất. Tuy nhiên, căn cứ xác minh của chính quyền địa phương về hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của gia đình bà B., tòa cho rằng việc buộc di dời toàn bộ nhà ở là không phù hợp với thực tế và chính sách an sinh xã hội. Vì vậy, hội đồng xét xử quyết định bác kháng cáo của cả hai bên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bích Ngọc (SHTT)