Nhiều trường hợp ung thư xương khởi phát chỉ bằng những cơn đau âm ỉ như đau cơ xương khớp thông thường, khiến người bệnh bỏ lỡ thời điểm phát hiện sớm.

Ung thư xương không phổ biến nhưng thường được phát hiện muộn do triệu chứng giai đoạn đầu nghèo nàn. Theo các bác sĩ chuyên khoa, không ít bệnh nhân chỉ đi khám khi khối u đã phát triển lớn hoặc xuất hiện biến chứng.

Trao đổi với PV Gia đình và Xã hội, ThS.BSNT Nguyễn Viết Hùng, Khoa Ngoại chấn thương, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) cho biết, “u xương” là khái niệm chỉ những khối bất thường phát triển trong xương, có thể lành tính hoặc ác tính. Trong đó, ung thư xương là dạng u xương ác tính.

Theo bác sĩ Hùng, ung thư xương có thể xuất phát trực tiếp từ xương, gọi là ung thư xương nguyên phát, hoặc do tế bào ung thư từ cơ quan khác di căn đến xương. Dù vậy, ung thư xương nguyên phát khá hiếm gặp, chiếm dưới 1% tổng số các loại ung thư.

Đau nhức xương khớp: tin tức, hình ảnh, video, bình luận mới nhất

Những dấu hiệu ung thư xương dễ bị bỏ qua

Triệu chứng phổ biến nhất của ung thư xương là đau xương kéo dài nhưng dễ khiến người bệnh chủ quan vì cơn đau xuất hiện không liên tục, mức độ nhẹ và giống các bệnh lý cơ xương khớp thông thường.

Khác với đau xương do vận động hay thoái hóa, đau do ung thư xương thường kéo dài dai dẳng và tăng dần theo thời gian. Nhiều bệnh nhân đau nhiều về đêm hoặc đau ngay cả khi nghỉ ngơi. Đây được xem là dấu hiệu cần đặc biệt lưu ý.

Ngoài đau kéo dài, một số trường hợp còn xuất hiện sưng nề quanh vùng xương tổn thương hoặc nổi khối bất thường. Ban đầu, các biểu hiện này thường không gây đau rõ rệt nên dễ bị bỏ qua. Khi khối u phát triển lớn hơn, người bệnh có thể đau tăng dần và hạn chế vận động.

Các vị trí thường gặp gồm vùng quanh gối, xương đùi, xương cánh tay, vùng háng và các xương dài của cơ thể.

Bác sĩ cũng lưu ý ung thư xương có thể gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên – nhóm tuổi xương phát triển mạnh. Nhiều phụ huynh dễ nhầm triệu chứng đau chân, đau quanh khớp hoặc đi khập khiễng ở trẻ với “đau tăng trưởng”.

Tuy nhiên, nếu tình trạng đau kéo dài, tăng dần hoặc xuất hiện nhiều về đêm, trẻ cần được đưa đi kiểm tra sớm. Việc phát hiện ở giai đoạn đầu giúp nâng cao hiệu quả điều trị và tăng khả năng bảo tồn vận động.

Ung thư xương cũng có thể khiến cấu trúc xương bị phá hủy, làm xương yếu và dễ gãy hơn bình thường. Một số bệnh nhân có thể gãy xương chỉ sau va chạm nhẹ hoặc té ngã không nghiêm trọng. Đây là tình trạng gãy xương bệnh lý cần được thăm khám để tìm nguyên nhân.

Đau xương về đêm ngày càng nhiều, dấu hiệu cảnh báo không nên bỏ qua - Ảnh 3.

Phân biệt đau xương thông thường và đau nghi ngờ bệnh lý

Theo ThS.BS Nguyễn Viết Hùng, đau xương thông thường thường giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giảm đau. Trong khi đó, đau do ung thư xương thường có đặc điểm kéo dài dai dẳng, đau tăng dần, đau nhiều về đêm và không giảm khi nghỉ ngơi.

Ngoài đau, bệnh còn có thể đi kèm các biểu hiện như sưng nề, hạn chế vận động, mệt mỏi, sụt cân hoặc xuất hiện khối bất thường tại xương.

Các bác sĩ khuyến cáo người dân nên đi khám sớm nếu xuất hiện các dấu hiệu như đau xương kéo dài nhiều tuần, đau tăng dần theo thời gian, đau về đêm, sưng nề bất thường, xuất hiện khối ở xương, đi khập khiễng kéo dài hoặc gãy xương sau va chạm nhẹ.

Hiện nay, các phương pháp như X-quang, MRI, CT scan và sinh thiết có vai trò quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý u xương. Trong đó, sinh thiết được xem là tiêu chuẩn giúp xác định chính xác khối u là lành tính hay ác tính.

Bác sĩ Hùng khuyến cáo người dân không nên tự ý đắp thuốc, kéo nắn hoặc điều trị theo truyền miệng khi chưa có chẩn đoán rõ ràng. Việc trì hoãn thăm khám có thể khiến bệnh tiến triển nặng hơn, làm giảm cơ hội điều trị hiệu quả.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh phần lớn u xương thực tế là lành tính. Tuy nhiên, dù là u lành hay ác tính, người bệnh vẫn cần được đánh giá đúng chuyên khoa để đảm bảo an toàn và có hướng điều trị phù hợp.

Các bác sĩ lưu ý không phải mọi trường hợp đau xương kéo dài đều là ung thư. Tuy nhiên, những triệu chứng bất thường kéo dài hoặc tăng dần vẫn cần được thăm khám chuyên khoa để xác định nguyên nhân.

HL (SHTT)