Một vụ tranh chấp lao động kéo dài đã khép lại với phần thắng thuộc về người lao động khi tòa án xác định doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái quy định trong thời gian nữ nhân sự này đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo hồ sơ vụ án, bà Nguyễn Thị Phượng D. ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH V. từ tháng 9/2019 đến tháng 9/2020, đảm nhận vị trí Giám đốc Điều hành tại văn phòng đại diện của doanh nghiệp ở TPHCM với mức lương 110 triệu đồng mỗi tháng.

Sau khi làm việc được hơn hai tháng, doanh nghiệp có chủ trương điều chuyển bà D. sang vị trí Giám đốc Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực. Tháng 11/2019, hai bên lập biên bản thanh lý hợp đồng lao động. Tuy nhiên, theo trình bày của bà D., ngay sau đó lãnh đạo công ty tiếp tục đề nghị bà đảm nhận các công việc chuyên môn do nhu cầu thực tế và yêu cầu hủy bỏ việc thanh lý hợp đồng.

Tin tưởng vào đề nghị từ phía doanh nghiệp, bà D. tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao, tham gia các chuyến công tác và làm việc với đối tác. Nhiều tài liệu trong hồ sơ thể hiện công ty vẫn thanh toán lương, chi phí công tác cũng như duy trì trao đổi công việc với bà sau thời điểm được cho là đã chấm dứt hợp đồng.

13-1781333576-nu-giam-doc-thang-kien-doanh-nghiep-duoc-boi-thuong-hon-13-ty-dong-vi-bi-cho-nghi-viec-trai-luat
Ảnh minh họa

Trong khi bà D. cho rằng quan hệ lao động vẫn tồn tại, doanh nghiệp lại khẳng định đã ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng từ ngày 12/11/2019. Tuy nhiên, phía công ty không đưa ra được chứng cứ chứng minh quyết định này đã được giao cho người lao động.

Cho rằng mình bị đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, bà D. đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp thanh toán các khoản tiền lương còn thiếu, bồi thường thiệt hại và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội.

Qua quá trình xem xét, tòa án nhận định hợp đồng lao động giữa hai bên được ký kết hợp pháp và vẫn tiếp tục được thực hiện trên thực tế sau thời điểm lập biên bản thanh lý. Các chứng cứ cho thấy doanh nghiệp vẫn giao việc và bà D. vẫn thực hiện công việc theo yêu cầu của công ty.

Một tình tiết quan trọng khác được hội đồng xét xử lưu ý là vào thời điểm doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng, bà D. đang trực tiếp nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đồng thời, công ty cũng không chứng minh được việc đã thông báo hoặc giao quyết định chấm dứt hợp đồng cho người lao động.

Từ những căn cứ này, tòa xác định việc Công ty TNHH V. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà D. là trái pháp luật và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định.

Bản án sơ thẩm buộc doanh nghiệp thanh toán cho bà D. các khoản tiền lương còn thiếu trong các tháng làm việc, tiền lương của thời gian còn lại trong hợp đồng từ tháng 12/2019 đến tháng 9/2020 và khoản bồi thường tương đương hai tháng lương do chấm dứt hợp đồng trái luật. Tổng số tiền phải chi trả được xác định là 1,308 tỷ đồng.

Ngoài khoản tiền trên, công ty còn phải làm việc với cơ quan bảo hiểm xã hội để truy đóng phần chênh lệch bảo hiểm theo mức lương đã thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời hoàn tất các nghĩa vụ bảo hiểm bắt buộc cho người lao động trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng.

Không đồng ý với phán quyết, doanh nghiệp đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía công ty không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc. Sau khi xem xét toàn diện hồ sơ và lời khai của các bên, tòa án cấp phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc doanh nghiệp thanh toán hơn 1,3 tỷ đồng và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ bảo hiểm đối với bà D. theo quy định.

Thùy Dương (SHTT)