Một khoản vay bổ sung vốn kinh doanh ban đầu chưa tới 600 triệu đồng, nhưng do gặp khủng hoảng tài chính và chỉ mới trả được hơn 6,7 triệu tiền lãi, một hộ kinh doanh tại Kiên Giang rơi vào cảnh nợ nần phình to gấp gần 4 lần sau hơn 8 năm.

Mối nợ phình to từ khoản vay 585 triệu đồng

Theo thông tin trên VietNamNet, sự việc bắt đầu từ ngày 30/11/2011, khi ông Nguyễn Văn T. và bà Chung Bích L. (ngụ tỉnh Kiên Giang) ký hợp đồng cấp tín dụng hạn mức 600 triệu đồng với Ngân hàng TMCP Đ. Để bổ sung vốn phục vụ công việc kinh doanh cà phê rang của hộ gia đình, hai bên đã ký khế ước nhận nợ với số tiền thực tế giải ngân là 585 triệu đồng.

Khoản vay được thỏa thuận với thời hạn 12 tháng. Trong tháng đầu tiên, mức lãi suất áp dụng là 25,64%/năm, sau đó được điều chỉnh định kỳ hằng tháng dựa trên lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12 tháng do ngân hàng công bố cộng với biên độ thỏa thuận. 

Bên vay có nghĩa vụ trả lãi hằng tháng và thanh toán toàn bộ nợ gốc vào cuối kỳ. Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ, vợ chồng ông T. đã thế chấp hai bất động sản tại TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (cũ) và thực hiện đầy đủ việc đăng ký giao dịch bảo đảm.

31-1785481330-vay-585-trieu-dong-lam-an-ho-kinh-doanh-ganh-khoan-no-hon-22-ty-dong-sau-8-nam
Ảnh minh họa: Internet

Tuy nhiên, công việc kinh doanh rơi vào khó khăn khiến bên vay mất khả năng trả nợ. Tính đến ngày 12/5/2020, tổng số tiền lãi mà ông T. và bà L. thanh toán cho ngân hàng mới dừng lại ở con số hơn 6,7 triệu đồng. 

Do nghĩa vụ tài chính không được hoàn thành, ngân hàng đã quyết định khởi kiện ra tòa để thu hồi công nợ. Đáng chú ý, trong quá trình giải quyết vụ án, phía ngân hàng cũng đã xem xét miễn giảm cho khách hàng khoản tiền lãi lên tới hơn 625 triệu đồng.

Hành trình tố tụng và bản án không thể đảo ngược

Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào tháng 9/2020 do TAND TP Rạch Giá (nay là TAND khu vực 1 - An Giang) xét xử, ngân hàng đã điều chỉnh yêu cầu khởi kiện, rút số tiền gốc đòi về đúng mức thực tế giải ngân là 585 triệu đồng thay vì hạn mức 600 triệu đồng. 

Ngân hàng đề nghị tòa buộc ông T. và bà L. thanh toán tổng cộng hơn 2,2 tỷ đồng, bao gồm 585 triệu đồng tiền gốc, gần 64 triệu đồng tiền lãi trong hạn, hơn 1,5 tỷ đồng tiền lãi quá hạn và hơn 4,3 triệu đồng tiền lãi chậm trả, đồng thời tiếp tục chịu lãi phát sinh đến khi trả xong nợ.

Quá trình giải quyết, ông T. thừa nhận toàn bộ chi tiết về khoản vay, mức lãi suất cũng như tài sản thế chấp do ngân hàng đưa ra. Ông đồng ý trả nợ nhưng cho biết do bế tắc kinh doanh nên không còn khả năng tài chính và chấp nhận để ngân hàng xử lý hai bất động sản thế chấp. Trong khi đó, bà L. dù được tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt và không đưa ra ý kiến.

Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc vợ chồng ông T. phải trả khoản nợ hơn 2,2 tỷ đồng (gồm nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn), đồng thời bác bỏ khoản tiền lãi chậm trả hơn 4,3 triệu đồng. 

Tòa cũng phán quyết bên vay phải tiếp tục chịu lãi đối với nợ gốc chưa thanh toán theo hợp đồng. Nếu không thực hiện nghĩa vụ, cơ quan thi hành án sẽ xử lý hai bất động sản thế chấp để thu hồi nợ; trường hợp tiền thu được vẫn chưa đủ, bị đơn phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu.

Không đồng ý với bản án, ông T. nộp đơn kháng cáo, đề nghị được trả nợ cho bà Ngô Mỹ Th. (người từng là Giám đốc Ngân hàng P. Chi nhánh S.) thay vì Ngân hàng TMCP Đ., đồng thời kiến nghị áp dụng mức lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm, Tòa án nhận định hợp đồng tín dụng ban đầu được ký kết hoàn toàn tự nguyện và đúng luật. Việc Ngân hàng P. sáp nhập để thành lập Ngân hàng TMCP Đ. đã chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với khoản vay theo đúng Luật Các tổ chức tín dụng. Bà Ngô Mỹ Th. chỉ là người đại diện ký hợp đồng chứ không phải chủ thể nhận tiền, do đó yêu cầu trả nợ cho cá nhân bà Th. là không có căn cứ.

Về mức lãi suất, Hội đồng xét xử khẳng định khoản vay dựa trên thỏa thuận hợp pháp giữa các bên, chưa kể ngân hàng đã chủ động giảm cho bị đơn hơn 625 triệu đồng tiền lãi.

Từ những căn cứ trên, Tòa phúc thẩm quyết định bác toàn bộ kháng cáo của ông T., giữ nguyên bản án sơ thẩm. Vợ chồng ông T. tiếp tục phải gánh khoản lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ, đồng thời đứng trước nguy cơ bị xử lý hai bất động sản thế chấp để thi hành án.

PN (SHTT)