-
Bắc Ninh: Thông tin chính thức vụ xe tự chế rơi từ tầng 19, đè chết nam thanh niên ở tầng 1 -
Giá vé máy bay dịp 2/9 “nhảy múa”: Chặng Hà Nội - Đà Nẵng bất ngờ đắt nhất, tăng gần gấp đôi -
Rơi nước mắt về bức thư người chồng mắc bệnh K phổi giai đoạn cuối ở Hà Nội viết cho bà xã và 2 con -
Thanh Hóa: Hốt hoảng tìm kiếm nữ sinh để lại "thư tuyệt mệnh", hóa ra bắt taxi đi chơi -
Công an Hà Nội thông tin vụ nhóm người hành hung cô gái và nam thanh niên giữa đường -
Australia bắn 21 phát đại bác chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm -
Ngỡ ngàng với số tiền phạt vụ cô gái 25 tuổi ở Hà Nội đăng bài bịa đặt, xúc phạm danh dự thiếu nữ 20 tuổi -
Khỏi zona hơn một năm, người phụ nữ vẫn bị những cơn đau như điện giật hành hạ -
Phát hiện người đàn ông nguy kịch nằm giữa rừng, hiện trường phát hiện nhiều dấu chân đáng ngờ -
3 thói quen ngủ tưởng bình thường nhưng có thể làm tăng nguy cơ ung thư
Thế giới
15/01/2016 17:09Những thuật ngữ quân sự kỳ lạ ở Nhật Bản
Mỹ và Nhật Bản là hai quốc gia có một trong những mối quan hệ đồng minh quân sự gắn bó chặt chẽ nhất trên thế giới: hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ được triển khai thường xuyên ở Nhật, lực lượng phòng vệ Nhật cũng luôn sát cánh với quân đội Mỹ trong nhiều cuộc diễn tập ở châu Á.
![]() |
| Các binh sĩ trong Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản. Ảnh: JapanTimes |
Nếu phải tìm gặp các chỉ huy bộ binh hay pháo binh trong các đơn vị quân đội Nhật Bản để bàn công chuyện, người sĩ quan này sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi không ai trong JSDF sử dụng những cụm từ thông dụng như "bộ binh" hay "pháo binh". Tương tự, anh ta sẽ rất bối rối khi muốn gặp một đại úy, thiếu tá hay đại tá Nhật Bản, bởi người Nhật dùng những từ như bậc một, bậc hai, bậc ba… để chỉ những cấp hàm này.
Một sĩ quan hải quân Mỹ muốn tìm thông tin về "tàu khu trục", "tàu tuần dương" từ những người đồng cấp Nhật sẽ phải gãi đầu gãi tai khi đối tác sử dụng những thuật ngữ hoàn toàn xa lạ, không hề thấy ở bất cứ lực lượng quân sự nào khác trên thế giới.
Theo các nhà ngôn ngữ học, hiện tượng ngôn ngữ kỳ lạ này là một hậu quả của thời kỳ hậu Thế Chiến II, khi quân đội Nhật tìm cách xóa bỏ hoàn toàn những di sản của một đội quân đế quốc vừa bị đánh bại.
Trong thời kỳ này, các đơn vị lục quân và hải quân đế quốc Nhật Bản vừa bị lực lượng chiếm đóng Mỹ giải tán ngay sau chiến tranh, các quân nhân nhanh chóng bị buộc giải ngũ, và rất nhiều sĩ quan Nhật trở nên bơ vơ không biết làm gì với những kiến thức thời chiến của mình, trong khi Mỹ không hề có ý định tái tuyển dụng họ.
Dưới sức ép của cuộc Chiến tranh Lạnh, Mỹ cần hơn bao giờ hết một đồng minh đáng tin cậy ở châu Á - Thái Bình Dương, và đến năm 1951, Thủ tướng Yoshida Shigeru đã nhất trí thành lập một lực lượng phòng vệ quốc gia trên bộ, trên không và trên biển với quân số 50.000 – 70.000 người. Do lục quân và hải quân đã bị giải tán hoàn toàn, quân đội Nhật Bản gần như phải gây dựng lại từ đầu, và Mỹ chịu trách nhiệm huấn luyện, trang bị cho lực lượng mới này.
Đại tá Frank Kowalski nhận trách nhiệm phụ trách chiến dịch tái vũ trang cho quân đội Nhật Bản, với hai mục tiêu lớn: đảm bảo không để bất cứ tàn dư nào của quân đội đế quốc trong lực lượng mới, và thành lập một lực lượng càng khác với quân đội Nhật Bản thời chiến càng tốt.
Bước vào thực hiện, các nhà hoạch định quân sự Mỹ và Nhật Bản đã nảy ra một ý kiến chưa từng có tiền lệ: nếu tất cả các đơn vị, vũ khí, khí tài, thậm chí là cấp hàm được đặt bằng những cái tên hoàn toàn mới, nó sẽ giảm thiểu khả năng nước Nhật quay trở về thời kỳ quân phiệt hóa, đồng thời làm giảm bớt tính chất quân sự trong JSDF.
Mục tiêu này đã khiến các huấn luyện viên Mỹ nghĩ ra những cái tên hoàn toàn mới cho các khái niệm quân sự cũ, bởi ngay cả những thuật ngữ được người Nhật dùng thường ngày trong Thế Chiến II cũng gây quan ngại rằng chúng sẽ làm sống dậy tư tưởng quân phiệt trong quá khứ.
Sự thay đổi này đã khiến những người không thường xuyên tiếp xúc với các binh sĩ JSDF trở nên bối rối và khó hiểu. Chẳng hạn như trong tiếng Nhật hồi Thế Chiến II, "hohei" (lính đi bộ) là từ dùng để chỉ lục quân, nhưng sau chiến tranh, nó bị biến tấu thành "hutsuuka", có nghĩa là "lính bình thường".
![]() |
| Tàu khu trục của Nhật Bản được gọi bằng danh từ mới là "tàu hộ tống phòng vệ". Ảnh: MilitaryNews |
Ngoại lệ duy nhất là Lực lượng Phòng vệ Trên không. Trong Thế Chiến II, lực lượng này nằm trong lục quân và hải quân chứ không phải là một quân chủng riêng biệt. Bởi vậy, sau chiến tranh, khi nó trở thành một lực lượng riêng, các thuật ngữ như "chiến đấu cơ", "máy bay ném bom", "máy bay vận tải" được dịch sang từ tiếng Anh và trở nên dễ hiểu hơn với người nước ngoài.
Tác động đến sĩ khí
Với nhiều quân nhân trong JSDF, việc sử dụng những thuật ngữ gần như không có tính chất quân sự trên trong một số hoàn cảnh lại khiến họ cảm thấy khó chịu hoặc bối rối. Dù gì đi nữa, thứ lớn nhất mà họ có được khi phục vụ trong lực lượng vũ trang chính là niềm tự hào, và họ sẽ rất khó có thể tự hào khi tự gọi mình là "cán bộ bậc một", "viên chức bậc hai" thay vì cấp hàm đại úy, thiếu tá như những người đồng cấp nước ngoài.
Trong thực tế, các sĩ quân JSDF khi trò chuyện với đối tác nước ngoài thường có xu hướng sử dụng các thuật ngữ cũ từ thời Thế Chiến II, đặc biệt là khi nói về cấp hàm và chức vụ. Những cuộc trò chuyện bắt đầu bằng "Lực lượng Phòng vệ Trên không" thường sẽ kết thúc bằng cụm từ "Không quân", điều mà JSDF tránh đề cập trong các tuyên bố chính thức.
Theo ông John Wright, chuyên gia tại Quỹ Mansfield chuyên về quan hệ hợp tác Mỹ - Nhật, việc các quân nhân Nhật sử dụng những thuật ngữ có từ thời Thế Chiến II này không phản ánh mong muốn hướng tới chủ nghĩa quân phiệt của họ, mà đơn giản vì đó là những cụm từ được các nước khác trên thế giới áp dụng phổ biến, trong đó có cả những quốc gia chưa từng tham gia bất cứ cuộc chiến nào trong hơn hai thế kỷ qua như Thụy Điển và Thụy Sĩ.
Ông Wright cho rằng cách dùng những thuật ngữ này cũng ảnh hưởng đáng kể đến sĩ khí trong quân đội Nhật Bản. Sau chiến tranh, người dân Nhật Bản dấy lên làn sóng đổ lỗi cho quân đội vì đã gây ra cảnh lầm than cho đất nước, khiến nghiệp binh bị coi thường ở nước này. Cho đến nay, các sĩ quan quân đội Nhật vẫn chỉ có địa vị xã hội tương đương nhân viên bưu điện.
Việc dùng những thuật ngữ mới "phi quân sự hóa" khiến quân đội Nhật Bản ngày càng giống hơn với các tổ chức dân sự khác. Với việc hàng ngày bị gọi bằng những cái tên không đúng với bản chất lực lượng mà mình đang phục vụ, các quân nhân Nhật Bản có thể sẽ cảm thấy bị tổn thương và bị giảm sút sĩ khí, theo ông Wright.
![]() |
| Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (giữa) và các quan chức quân sự. Ảnh: JapanTimes |
Trong những năm gần đây, chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe rất nỗ lực để nâng cao vai trò của JSDF trong đảm bảo an ninh khu vực. Nhật Bản đã thông qua cách diễn giải mới về hiến pháp, lần đầu tiên cho phép JSDF điều động lực lượng tham chiến ở nước ngoài để bảo vệ đồng minh.
- Chủ tịch Tập đoàn Mỹ Hạnh hầu tòa vì chiêu trò lừa đảo 1.200 tỷ đồng sâm Ngọc Linh (17:41)
- Đồng Nai chuẩn bị đấu giá gần 89 ha đất xây dựng thành phố sân bay Long Thành (17:28)
- Tự đóng nước lọc vào vỏ chai nhãn hiệu nổi tiếng để bán cổng bệnh viện, một phụ nữ bị xử lý (17:15)
- Chùa Bầu lên tiếng vụ bé trai bị đánh gây bức xúc (17:10)
- Đừng chọn cây kim ngân chỉ vì cái tên nếu ngôi nhà bạn thiếu điều kiện này (1 giờ trước)
- Cùng một chiếc kính sau 16 năm: Angelababy chứng minh "đẳng cấp nhan sắc" bất chấp giông bão sự nghiệp (1 giờ trước)
- Bắc Ninh: Thông tin chính thức vụ xe tự chế rơi từ tầng 19, đè chết nam thanh niên ở tầng 1 (1 giờ trước)
- Chỉ vì một lần giao xe cho bạn đã uống rượu, nam sinh Hưng Yên bị khởi tố sau tai nạn chết người (1 giờ trước)
- Bé gái 5 tuổi mất tích gần 6 năm, cảnh sát bất ngờ tìm thấy em tại trường học (1 giờ trước)
- Đừng tiếc chiếc bình giữ nhiệt đã cũ: Người đàn ông 50 tuổi dùng một chiếc suốt 20 năm, sức khỏe suy kiệt (1 giờ trước)


