-
4 sai lầm khi dùng bình giữ nhiệt có thể biến vật dụng quen thuộc thành mối lo cho sức khỏe -
Lén gửi 10 triệu cho bố ruột chữa bệnh, tôi sững người trước phản ứng và quyết định từ mẹ chồng lẫn thái độ của chồng -
Triệu Vy sau 5 năm bị phong sát: Từ đỉnh cao danh vọng đến cuộc sống chật vật vì nợ nần -
Bi kịch từ mâu thuẫn gia đình dai dẳng: Con dâu dùng hai con dao đoạt mạng mẹ chồng lúc rạng sáng -
Tô Ngọc Viên Minh: Điểm tựa tri thức và cuộc sống kín tiếng phía sau sân cỏ của Công Phượng -
5 xe tông liên hoàn trên cao tốc vì không giữ khoảng cách an toàn -
6 loại đồ uống không nên dùng khi cơ thể bị mất nước, thiếu nước -
Xe khách 20 chỗ chở hơn gấp đôi số người quy định, tài xế và hợp tác xã bị phạt 174 triệu đồng -
Bộ Y tế cảnh báo nguy cơ ngộ độc sau mưa lũ, yêu cầu kiểm soát chặt thực phẩm -
Mẹ chồng từng ngán ngẩm vì con dâu lười, đến khi đổ bệnh mới bật khóc vì một câu nói
Thế giới
15/01/2016 17:09Những thuật ngữ quân sự kỳ lạ ở Nhật Bản
Mỹ và Nhật Bản là hai quốc gia có một trong những mối quan hệ đồng minh quân sự gắn bó chặt chẽ nhất trên thế giới: hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ được triển khai thường xuyên ở Nhật, lực lượng phòng vệ Nhật cũng luôn sát cánh với quân đội Mỹ trong nhiều cuộc diễn tập ở châu Á.
![]() |
| Các binh sĩ trong Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản. Ảnh: JapanTimes |
Nếu phải tìm gặp các chỉ huy bộ binh hay pháo binh trong các đơn vị quân đội Nhật Bản để bàn công chuyện, người sĩ quan này sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi không ai trong JSDF sử dụng những cụm từ thông dụng như "bộ binh" hay "pháo binh". Tương tự, anh ta sẽ rất bối rối khi muốn gặp một đại úy, thiếu tá hay đại tá Nhật Bản, bởi người Nhật dùng những từ như bậc một, bậc hai, bậc ba… để chỉ những cấp hàm này.
Một sĩ quan hải quân Mỹ muốn tìm thông tin về "tàu khu trục", "tàu tuần dương" từ những người đồng cấp Nhật sẽ phải gãi đầu gãi tai khi đối tác sử dụng những thuật ngữ hoàn toàn xa lạ, không hề thấy ở bất cứ lực lượng quân sự nào khác trên thế giới.
Theo các nhà ngôn ngữ học, hiện tượng ngôn ngữ kỳ lạ này là một hậu quả của thời kỳ hậu Thế Chiến II, khi quân đội Nhật tìm cách xóa bỏ hoàn toàn những di sản của một đội quân đế quốc vừa bị đánh bại.
Trong thời kỳ này, các đơn vị lục quân và hải quân đế quốc Nhật Bản vừa bị lực lượng chiếm đóng Mỹ giải tán ngay sau chiến tranh, các quân nhân nhanh chóng bị buộc giải ngũ, và rất nhiều sĩ quan Nhật trở nên bơ vơ không biết làm gì với những kiến thức thời chiến của mình, trong khi Mỹ không hề có ý định tái tuyển dụng họ.
Dưới sức ép của cuộc Chiến tranh Lạnh, Mỹ cần hơn bao giờ hết một đồng minh đáng tin cậy ở châu Á - Thái Bình Dương, và đến năm 1951, Thủ tướng Yoshida Shigeru đã nhất trí thành lập một lực lượng phòng vệ quốc gia trên bộ, trên không và trên biển với quân số 50.000 – 70.000 người. Do lục quân và hải quân đã bị giải tán hoàn toàn, quân đội Nhật Bản gần như phải gây dựng lại từ đầu, và Mỹ chịu trách nhiệm huấn luyện, trang bị cho lực lượng mới này.
Đại tá Frank Kowalski nhận trách nhiệm phụ trách chiến dịch tái vũ trang cho quân đội Nhật Bản, với hai mục tiêu lớn: đảm bảo không để bất cứ tàn dư nào của quân đội đế quốc trong lực lượng mới, và thành lập một lực lượng càng khác với quân đội Nhật Bản thời chiến càng tốt.
Bước vào thực hiện, các nhà hoạch định quân sự Mỹ và Nhật Bản đã nảy ra một ý kiến chưa từng có tiền lệ: nếu tất cả các đơn vị, vũ khí, khí tài, thậm chí là cấp hàm được đặt bằng những cái tên hoàn toàn mới, nó sẽ giảm thiểu khả năng nước Nhật quay trở về thời kỳ quân phiệt hóa, đồng thời làm giảm bớt tính chất quân sự trong JSDF.
Mục tiêu này đã khiến các huấn luyện viên Mỹ nghĩ ra những cái tên hoàn toàn mới cho các khái niệm quân sự cũ, bởi ngay cả những thuật ngữ được người Nhật dùng thường ngày trong Thế Chiến II cũng gây quan ngại rằng chúng sẽ làm sống dậy tư tưởng quân phiệt trong quá khứ.
Sự thay đổi này đã khiến những người không thường xuyên tiếp xúc với các binh sĩ JSDF trở nên bối rối và khó hiểu. Chẳng hạn như trong tiếng Nhật hồi Thế Chiến II, "hohei" (lính đi bộ) là từ dùng để chỉ lục quân, nhưng sau chiến tranh, nó bị biến tấu thành "hutsuuka", có nghĩa là "lính bình thường".
![]() |
| Tàu khu trục của Nhật Bản được gọi bằng danh từ mới là "tàu hộ tống phòng vệ". Ảnh: MilitaryNews |
Ngoại lệ duy nhất là Lực lượng Phòng vệ Trên không. Trong Thế Chiến II, lực lượng này nằm trong lục quân và hải quân chứ không phải là một quân chủng riêng biệt. Bởi vậy, sau chiến tranh, khi nó trở thành một lực lượng riêng, các thuật ngữ như "chiến đấu cơ", "máy bay ném bom", "máy bay vận tải" được dịch sang từ tiếng Anh và trở nên dễ hiểu hơn với người nước ngoài.
Tác động đến sĩ khí
Với nhiều quân nhân trong JSDF, việc sử dụng những thuật ngữ gần như không có tính chất quân sự trên trong một số hoàn cảnh lại khiến họ cảm thấy khó chịu hoặc bối rối. Dù gì đi nữa, thứ lớn nhất mà họ có được khi phục vụ trong lực lượng vũ trang chính là niềm tự hào, và họ sẽ rất khó có thể tự hào khi tự gọi mình là "cán bộ bậc một", "viên chức bậc hai" thay vì cấp hàm đại úy, thiếu tá như những người đồng cấp nước ngoài.
Trong thực tế, các sĩ quân JSDF khi trò chuyện với đối tác nước ngoài thường có xu hướng sử dụng các thuật ngữ cũ từ thời Thế Chiến II, đặc biệt là khi nói về cấp hàm và chức vụ. Những cuộc trò chuyện bắt đầu bằng "Lực lượng Phòng vệ Trên không" thường sẽ kết thúc bằng cụm từ "Không quân", điều mà JSDF tránh đề cập trong các tuyên bố chính thức.
Theo ông John Wright, chuyên gia tại Quỹ Mansfield chuyên về quan hệ hợp tác Mỹ - Nhật, việc các quân nhân Nhật sử dụng những thuật ngữ có từ thời Thế Chiến II này không phản ánh mong muốn hướng tới chủ nghĩa quân phiệt của họ, mà đơn giản vì đó là những cụm từ được các nước khác trên thế giới áp dụng phổ biến, trong đó có cả những quốc gia chưa từng tham gia bất cứ cuộc chiến nào trong hơn hai thế kỷ qua như Thụy Điển và Thụy Sĩ.
Ông Wright cho rằng cách dùng những thuật ngữ này cũng ảnh hưởng đáng kể đến sĩ khí trong quân đội Nhật Bản. Sau chiến tranh, người dân Nhật Bản dấy lên làn sóng đổ lỗi cho quân đội vì đã gây ra cảnh lầm than cho đất nước, khiến nghiệp binh bị coi thường ở nước này. Cho đến nay, các sĩ quan quân đội Nhật vẫn chỉ có địa vị xã hội tương đương nhân viên bưu điện.
Việc dùng những thuật ngữ mới "phi quân sự hóa" khiến quân đội Nhật Bản ngày càng giống hơn với các tổ chức dân sự khác. Với việc hàng ngày bị gọi bằng những cái tên không đúng với bản chất lực lượng mà mình đang phục vụ, các quân nhân Nhật Bản có thể sẽ cảm thấy bị tổn thương và bị giảm sút sĩ khí, theo ông Wright.
![]() |
| Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (giữa) và các quan chức quân sự. Ảnh: JapanTimes |
Trong những năm gần đây, chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe rất nỗ lực để nâng cao vai trò của JSDF trong đảm bảo an ninh khu vực. Nhật Bản đã thông qua cách diễn giải mới về hiến pháp, lần đầu tiên cho phép JSDF điều động lực lượng tham chiến ở nước ngoài để bảo vệ đồng minh.
- Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy khoe ảnh đi học tại Đại học danh giá Oxford (19:09)
- Ukraine tung hàng trăm UAV tập kích quy mô lớn vào thủ đô Moskva trong ngày Nga bầu cử (57 phút trước)
- Lời khai rùng minh của nghi phạm sát hại bạn gái người Thái Lan, cho thi thể vào vali rồi giấu trong tủ đông công ty (1 giờ trước)
- Nam Trung Bộ và Nam Bộ đối mặt đợt mưa lớn diện rộng, có nơi vượt ngưỡng 400 mm (1 giờ trước)
- Những tình tiết bất thường trong vụ phát hiện xương người trong xe bán tải ở Vĩnh Long (2 giờ trước)
- Bộ trưởng GD-ĐT nhận trách nhiệm vụ thiếu sách giáo khoa, cam kết không tái diễn (2 giờ trước)
- Nghệ An: Mở đường, làm cầu tạm tiếp tế cho hơn 1.100 dân bị cô lập do sạt lở núi (2 giờ trước)
- Houthi tuyên bố tấn công "các vị trí nhạy cảm" ở thủ đô Saudi Arabia (3 giờ trước)
- Nghi án nam sinh lớp 12 bị đâm gục do vô tình đi ngang qua khu vực "hỗn chiến" (3 giờ trước)
- Nhiều người mua iPhone Duo rồi thất vọng, muốn trả lại ngay lập tức: Sự thật ra sao? (3 giờ trước)


