Tưởng như là may mắn khi mang thai được mẹ chồng chăm sóc chu đáo, nhưng càng về sau, người phụ nữ trẻ dần rơi vào áp lực khi mọi quyết định đều bị thay thế.

Nhân vật trong câu chuyện là Hạnh, 29 tuổi, mang thai con đầu lòng sau hơn một năm kết hôn. Khi biết tin con dâu có bầu, mẹ chồng Hạnh không giấu nổi niềm vui, thậm chí bật khóc và khẳng định từ nay cô chỉ cần nghỉ ngơi, mọi việc đã có bà lo.

Ngay sau cưới, Hạnh về sống cùng gia đình chồng. Ngôi nhà đông người, còn mẹ chồng là người kỹ tính, quen với nếp sinh hoạt cũ. Kể từ khi Hạnh mang thai, bà gần như thay đổi hoàn toàn. Sáng là cháo nóng, trưa có canh hầm, tối là sữa bầu. Mỗi bữa ăn đều được chuẩn bị tỉ mỉ với mong muốn cháu nội sinh ra thật khỏe mạnh.

Chỉ có một điều Hạnh luôn thắc mắc, đó là chưa lần nào mẹ chồng hỏi cô muốn ăn gì. Mọi món ăn đều được bày sẵn, đúng giờ và đúng khẩu phần. Có hôm nghén nặng, Hạnh khẽ xin được ăn ít lại thì mẹ chồng nhẹ nhàng nhắc: “Ăn vì cháu chứ không phải vì con”. Câu nói ấy dần trở thành điệp khúc quen thuộc trong những ngày mang thai.

Mẹ chồng chăm tôi rất kỹ khi mang bầu, nhưng càng được chăm tôi càng thấy sợ - 1

Mỗi khi Hạnh ăn chậm, mẹ chồng lại ngồi đối diện, gắp thêm thức ăn và nhắc phải cố gắng. Ánh mắt đầy kỳ vọng khiến cô dù mệt hay buồn nôn vẫn phải cố nuốt trọn bữa. Chồng cô nhìn thấy chỉ cho rằng đó là sự quan tâm, rằng nhiều người còn không có được.

Ba tháng đầu, Hạnh tăng gần 10 kg. Sang tháng thứ sáu, cân nặng đã vượt khuyến cáo của bác sĩ. Trong khi cô lo lắng, mẹ chồng lại càng vui vẻ, cho rằng như thế mới là “bầu khỏe”. Hạnh bắt đầu sợ, không chỉ vì cân nặng mà vì nhận ra mình không còn quyền quyết định với chính cơ thể mình. Cô không được chọn món, không được giảm khẩu phần, không được phép từ chối bất cứ thứ gì, tất cả đều nhân danh “tốt cho cháu”.

Có lần Hạnh thèm một bát bún riêu ngoài chợ, nhưng khi vừa ngập ngừng định nói, mẹ chồng đã gạt đi vì lo không đảm bảo vệ sinh. Tối hôm đó, cô khóc trong im lặng, không chỉ vì món ăn bị từ chối mà vì nhận ra suốt nhiều tháng qua, không ai hỏi cô có mệt hay không, có thấy vui hay buồn.

Một buổi chiều, Hạnh vô tình nghe mẹ chồng tâm sự với người thân rằng ngày xưa khi mang thai, bà từng thiếu thốn đủ bề, sinh nở khó khăn và luôn day dứt vì không được chăm sóc đầy đủ. Giờ có cháu nội, bà chỉ mong con dâu không phải chịu cảnh như mình.

Từ chồng, Hạnh biết thêm rằng mẹ chồng từng trải qua thời kỳ kinh tế khó khăn, lúc mang bầu luôn nơm nớp lo âu, thậm chí suýt gặp nguy hiểm khi sinh nở. Ký ức thiếu thốn ấy khiến bà ám ảnh chuyện bồi dưỡng khi có người mang thai trong nhà. Với bà, ăn nhiều đồng nghĩa với an toàn, tăng cân là khỏe mạnh, còn ép con dâu ăn chính là cách bảo vệ cháu.

Hiểu được điều đó, Hạnh càng thương mẹ chồng hơn. Nhưng sự thấu hiểu không giúp cô bớt mệt mỏi. Cô dần cảm thấy mình chỉ như một chiếc bụng bầu, còn cảm xúc cá nhân thì bị bỏ quên.

Trong lúc bế tắc, Hạnh tâm sự với mẹ ruột và bất ngờ khi biết rằng chính mẹ mình ngày xưa cũng từng trải qua điều tương tự. Bà ngoại chăm mẹ cô bằng tất cả tình thương nhưng lại vô tình tạo áp lực vì nỗi sợ từng trải. Mẹ cô nói rằng bà không trách, nhưng có một thời gian dài đã rất cô đơn.

Từ đó, Hạnh nhận ra có rất nhiều phụ nữ đang đứng giữa hai thế hệ: một bên là ký ức thiếu thốn, một bên là mong muốn được tôn trọng. Cô nhẹ nhàng nói chuyện với chồng, mong anh truyền đạt để mẹ chồng hiểu rằng ngoài sức khỏe của em bé, cảm xúc của cô cũng cần được lắng nghe.

Sự thay đổi không diễn ra ngay lập tức. Nhưng rồi, lần đầu tiên, mẹ chồng hỏi Hạnh rằng hôm nay cô muốn ăn gì. Chỉ một câu hỏi đơn giản, Hạnh đã thấy mình được thở trở lại.

Hiện tại, Hạnh vẫn được chăm sóc rất kỹ lưỡng, nhưng cô không còn sợ nữa. Bởi cô hiểu rằng đằng sau sự quan tâm có phần cực đoan ấy là nỗi ám ảnh của một người từng sinh nở trong thiếu thốn. Điều quan trọng nhất với cô bây giờ không phải là chống lại mẹ chồng, mà là học cách lên tiếng để bản thân không bị lạc mất trong hành trình làm mẹ.

HL (SHTT)