Trung Quốc tiếp tục trở thành thị trường quan trọng nhất, đóng góp lớn vào đà tăng trưởng của ngành rau quả Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này liên tục tăng trong những tháng đầu năm 2026.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, riêng tháng 7, xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt khoảng 1,12 tỷ USD, tăng 20% so với tháng trước và cao hơn 47% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4,83 tỷ USD, tăng 25%.

Trong đó, Trung Quốc chiếm tới 55% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Riêng tháng 7, xuất khẩu sang thị trường này ước đạt 618,97 triệu USD, đưa tổng giá trị trong 7 tháng lên khoảng 2,56 tỷ USD.

Số liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho thấy thị phần rau quả Việt Nam tại nước này cũng tăng đáng kể, từ gần 13,8% trong nửa đầu năm 2025 lên gần 15,8% cùng kỳ năm 2026. Với đà tăng hiện tại, Việt Nam được dự báo có khả năng vượt Chile để trở thành quốc gia cung ứng rau quả và sản phẩm chế biến lớn thứ hai cho thị trường Trung Quốc.

12-1786502224-rau-qua-viet-nam-ngay-cang-duoc-trung-quoc-ua-chuong-xuat-khau-tang-manh
Nông sản Việt còn nhiều dư địa tại thị trường Trung Quốc. Ảnh: Nam Khánh.

Sầu riêng, dừa và nhiều loại trái cây tăng tốc

Trái cây tươi, khô và đông lạnh tiếp tục là nhóm hàng chủ lực của Việt Nam tại Trung Quốc. Trong 6 tháng đầu năm, nhóm sản phẩm này mang về 1,63 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước và chiếm hơn 80% tổng giá trị rau quả Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này.

Nổi bật nhất là sầu riêng tươi và đông lạnh với kim ngạch hơn 987,6 triệu USD, tăng tới 43%. Kết quả này được thúc đẩy bởi thời điểm cao điểm thu hoạch tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ trong quý II/2026, cùng với việc các doanh nghiệp chủ động chuyển sang những vùng trồng đáp ứng yêu cầu về mã số vùng trồng.

Dừa tươi cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng khi đạt 62,8 triệu USD, tăng hơn 99% so với năm trước nhờ việc xuất khẩu chính ngạch được hỗ trợ bởi Nghị định thư. Trong khi đó, mít, bưởi và chanh leo tiếp tục giữ thị phần ổn định tại các tỉnh giáp biên và những trung tâm phân phối ở phía nam Trung Quốc.

Không chỉ trái cây tươi, nhóm sản phẩm chế biến cũng đang tăng trưởng nhanh. Sáu tháng đầu năm, kim ngạch nhóm này đạt 381,8 triệu USD, tăng 79% so với cùng kỳ và chiếm 18,73% cơ cấu xuất khẩu rau quả.

Các loại hạt như dẻ cười, hạnh nhân cùng những sản phẩm như xoài sấy dẻo, chanh leo cấp đông, nước ép bưởi và các sản phẩm chế biến từ dừa đang góp phần thúc đẩy phân khúc này. Những sản phẩm này được hưởng lợi từ xu hướng tiêu dùng các loại thực phẩm tiện lợi của người tiêu dùng trẻ tại Trung Quốc.

Ở nhóm rau củ, dù tỷ trọng còn nhỏ, ớt, đỗ xanh, nấm và các loại rau gia vị xuất khẩu chính ngạch vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định. Khoai lang cũng đang từng bước lấy lại vị trí tại hệ thống bán lẻ ở khu vực Nam Trung Quốc.

Vì sao Trung Quốc tăng nhập rau quả Việt Nam?

Theo ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, sự tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó yếu tố mùa vụ đóng vai trò quan trọng.

Đáng chú ý là thời điểm Việt Nam bước vào vụ thu hoạch sầu riêng chính, đặc biệt tại Tây Nguyên, cũng là lúc Thái Lan kết thúc mùa thu hoạch. Điều này tạo lợi thế đáng kể cho doanh nghiệp Việt Nam về nguồn cung trái cây tươi tại thị trường Trung Quốc.

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã chấp thuận thêm 18 phòng kiểm nghiệm nông sản của Việt Nam. Việc này giúp rút ngắn thời gian kiểm tra an toàn thực phẩm, đồng thời hạn chế nguy cơ ùn tắc tại các cửa khẩu đường bộ trong giai đoạn cao điểm.

Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 36, theo hướng đơn giản hóa thủ tục cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp và người trồng hoàn thiện hồ sơ nhanh hơn, đáp ứng các yêu cầu kiểm dịch của Hải quan Trung Quốc.

Tuy vậy, dư địa tăng trưởng tại thị trường này vẫn còn rất lớn. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhiều loại trái cây có lợi thế của Việt Nam như bơ, na, cam, quýt vẫn đang chờ được mở cửa thông qua các nghị định thư về kiểm dịch thực vật.

Trái cây Việt Nam hiện cũng mới tập trung ở một số khu vực và chưa thâm nhập sâu vào nhiều địa phương ở nội địa Trung Quốc. Muốn mở rộng thị trường, doanh nghiệp cần tiếp tục bảo đảm chất lượng vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tính đồng đều của sản phẩm.

Từ "luồng xanh" đến chế biến sâu

Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Vina T&T Group, với những chuyến hàng phải vận chuyển trong thời gian dài vào sâu nội địa Trung Quốc, tốc độ thông quan là yếu tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và độ tươi của nông sản.

Do đó, ông đề xuất hai bên sớm xây dựng cơ chế đánh giá và ưu tiên "luồng xanh" cho những doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt các quy định về kiểm dịch và xuất nhập khẩu. Nếu được áp dụng, cơ chế này có thể giúp hàng hóa nhanh chóng được thông quan, giảm hao hụt và giữ chất lượng tốt hơn khi đến tay người tiêu dùng.

Song song với việc rút ngắn thời gian vận chuyển, chế biến sâu cũng được xem là hướng đi quan trọng. Một doanh nghiệp xuất khẩu cho biết nhu cầu tại Trung Quốc đối với nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ trái cây nhiệt đới Việt Nam như rau quả đông lạnh, nước ép, đồ hộp đang tăng.

Chế biến không chỉ giúp gia tăng giá trị sản phẩm mà còn hạn chế rủi ro hư hỏng trong quá trình vận chuyển đường dài, đặc biệt khi hàng hóa cần đi sâu vào thị trường nội địa Trung Quốc.

Không thể mãi cạnh tranh bằng giá rẻ

Theo TS Huỳnh Thanh Điền, Trung Quốc đã trở thành thị trường nhập khẩu quy mô lớn với yêu cầu kỹ thuật ngày càng chặt chẽ. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, thay vì chỉ dựa vào sản lượng hoặc giá thấp.

Theo chuyên gia này, hướng phát triển bền vững là nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm và xây dựng câu chuyện thương hiệu riêng cho từng loại nông sản.

Nếu làm tốt việc định vị thương hiệu và phát triển chuỗi giá trị chế biến, nông sản Việt Nam không chỉ có thêm cơ hội mở rộng tại Trung Quốc mà còn có thể tạo nền tảng để tiến sâu hơn vào những thị trường khó tính trên thế giới.

Bích Ngọc (SHTT)