Dòng tiền nhàn rỗi của người dân chảy vào hệ thống ngân hàng tăng mạnh, nhưng theo chuyên gia, vấn đề không nằm ở việc đưa thật nhiều tiền ra nền kinh tế mà là làm sao để dòng vốn đến đúng nơi, đúng đối tượng và tạo ra hiệu quả thực sự.

Nguồn tiền gửi của người dân tại các ngân hàng đang tăng lên mức kỷ lục, vượt 11 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nghịch lý đặt ra là không ít doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn khi tìm kiếm vốn để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trao đổi với Tiền Phong ngày 17/8, TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng sự gia tăng mạnh của tiền gửi ngân hàng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, việc các ngân hàng từng chịu áp lực thanh khoản và phải tăng lãi suất huy động, cùng với những biến động trên các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản và vàng, đã khiến người dân có xu hướng lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng.

Theo ông Điền, khi các kênh đầu tư khác tiềm ẩn nhiều rủi ro trong khi lãi suất tiền gửi ở thời điểm đó tương đối hấp dẫn, dòng tiền tiếp tục được đưa vào hệ thống ngân hàng.

18-1787019526-hon-11-trieu-ty-dong-tien-gui-vao-ngan-hang-vi-sao-doanh-nghiep-van-kho-tiep-can-von
Lãi suất hấp dẫn, người dân gửi tiền vào ngân hàng tăng kỷ lục.

Tuy nhiên, lượng tiền lớn trong ngân hàng không đồng nghĩa nền kinh tế sẽ tự động hấp thụ hiệu quả nguồn vốn này. Điều quan trọng hơn là phải nâng cao chất lượng dòng tiền, thay vì chỉ đặt mục tiêu tăng tín dụng bằng mọi giá.

“Dòng vốn cần được bảo đảm đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh”, ông Điền nhấn mạnh, đồng thời cho rằng tín dụng tăng cao chưa chắc mang lại hiệu quả nếu dòng tiền bị hút vào hoạt động đầu cơ hoặc mắc kẹt tại những công trình kéo dài.

Để định hướng dòng vốn, chuyên gia cho rằng cần sử dụng các công cụ như chính sách thuế đối với hoạt động đầu cơ bất động sản nhằm giảm sức hấp dẫn của những kênh phi sản xuất. Khi lợi nhuận từ đầu cơ giảm, dòng tiền có thể chuyển hướng sang hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó, nguồn vốn ngân hàng cũng cần được phân bổ phù hợp hơn. Theo ông Điền, ngân hàng nên tập trung chủ yếu vào nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp, trong khi các nhu cầu đầu tư trung và dài hạn cần có thêm sự tham gia của những kênh huy động vốn khác như chứng khoán và trái phiếu.

Việc để ngân hàng phải đáp ứng gần như toàn bộ nhu cầu vốn của nền kinh tế có thể làm gia tăng rủi ro cho hệ thống và tạo thêm áp lực lên lãi suất.

Khi các doanh nghiệp lớn có đủ nguồn lực để mở rộng sản xuất, kinh doanh, họ sẽ tạo thêm đơn hàng cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi đó, các doanh nghiệp này mới phát sinh nhu cầu vay vốn lưu động, giúp dòng tiền ngân hàng thực sự vận động trong nền kinh tế.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn mắc ở tài sản thế chấp

Một trong những điểm nghẽn lớn được TS. Huỳnh Thanh Điền chỉ ra là khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo ông, phần lớn nhóm doanh nghiệp này khó vay vốn theo các quy định thông thường do hạn chế về tài sản thế chấp.

Vì vậy, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản bảo đảm, việc xét duyệt khoản vay cần chú trọng hơn đến tính khả thi của phương án kinh doanh.

Chuyên gia cho rằng chính sách tiền tệ không thể một mình giải quyết bài toán đưa vốn vào nền kinh tế. Các giải pháp về tài khóa cũng cần được phối hợp, từ giảm thuế, kích thích tiêu dùng, thúc đẩy đầu tư đến đẩy mạnh đầu tư công.

Khi doanh nghiệp có đơn hàng và thị trường, nhu cầu vay vốn sẽ xuất hiện. Khi đó, nguồn tiền từ ngân hàng được đưa ra mới có thể phát huy hiệu quả rõ rệt.

Một vấn đề khác được chuyên gia cảnh báo là việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng thương mại để tài trợ cho các dự án hạ tầng hoặc dự án PPP có thời gian thu hồi vốn rất dài, có thể lên tới 30 năm.

Theo ông Điền, nếu nguồn vốn ngân hàng bị tập trung quá nhiều vào một số dự án hạ tầng lớn, nguồn lực dành cho các doanh nghiệp sản xuất có thể bị thu hẹp. Đồng thời, ngân hàng cũng đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu dòng tiền từ các dự án không trở về đúng như kỳ vọng.

Ông Điền cho rằng đây cũng là một trong những yếu tố từng khiến hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Khi thanh khoản chịu áp lực, các ngân hàng phải tăng huy động vốn, kéo theo lãi suất huy động tăng và tạo áp lực lên cả lãi suất cho vay.

Như vậy, bài toán hiện nay không đơn thuần là “có bao nhiêu tiền trong ngân hàng”, mà quan trọng hơn là dòng tiền ấy có thể đi vào đâu và tạo ra giá trị như thế nào cho nền kinh tế.

Bích Ngọc (SHTT)