Dù sở hữu lực lượng hải quân được đánh giá mạnh nhất toàn cầu, Mỹ vẫn đối mặt hàng loạt trở ngại trong nỗ lực bảo đảm an toàn lưu thông tại khu vực vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu mỏ thế giới.

Sự chú ý đổ dồn vào chiến dịch “Dự án Tự do” do Mỹ triển khai nhằm hộ tống tàu thương mại qua eo biển Hormuz. Tuy nhiên, chiến dịch này bất ngờ bị đình chỉ chỉ sau hai ngày hoạt động. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, lực lượng Mỹ mới hỗ trợ được hai tàu rời Vịnh Ba Tư trước khi tạm dừng nhiệm vụ.

Theo nhận định của các chuyên gia quốc phòng, việc duy trì an toàn tuyệt đối tại Hormuz phức tạp hơn rất nhiều so với những tuyên bố cứng rắn từ các bên liên quan. Dù eo biển chưa hoàn toàn bị phong tỏa, niềm tin của giới vận tải biển và bảo hiểm đang suy giảm nghiêm trọng.

11-1778516184-vi-sao-doi-hai-quan-hung-manh-nhat-the-gioi-cung-bat-luc-truoc-hormuz
Với các rủi ro liên tục xuất hiện, các tàu dầu đang tìm cách giảm sự phụ thuộc vào eo biển Hormuz. Ảnh: Reuters.

Từ khi xung đột bùng phát, Iran bị cho là đã có nhiều động thái quấy rối hoặc tấn công tàu thương mại tại eo biển Hormuz, Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman. Thông tin Tehran cài thủy lôi trên tuyến hàng hải thông thường càng làm gia tăng lo ngại. Lầu Năm Góc đánh giá hoạt động rà phá thủy lôi tại khu vực này có thể kéo dài tới nửa năm.

Không chỉ vậy, Iran còn được cho là yêu cầu tàu thuyền nộp phí khi đi qua vùng lãnh hải và thành lập cơ quan riêng để áp đặt các quy định vận tải mới. Những yếu tố đó khiến lưu lượng tàu qua Hormuz giảm mạnh, dù đây vốn là một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới.

Giới chuyên gia cho rằng địa lý đang mang lại lợi thế lớn cho Iran. Với vị trí trải dài dọc bờ bắc Vịnh Ba Tư và eo biển Hormuz, Tehran có thể sử dụng tên lửa hành trình, UAV và xuồng cao tốc để đe dọa tàu thuyền trong thời gian phản ứng rất ngắn.

Các tàu chiến Mỹ có thể tự bảo vệ và hộ tống một số tàu thương mại nhất định, song việc duy trì trạng thái tác chiến liên tục sẽ nhanh chóng tạo áp lực lớn lên thủy thủ đoàn và tiêu hao kho tên lửa phòng thủ. Trong bối cảnh tàu dân sự hầu như không có khả năng tự vệ, mỗi tàu khu trục Mỹ chỉ có thể bảo vệ hiệu quả số lượng hạn chế tàu thương mại trong một hành trình qua eo biển.

Để vận hành chiến dịch hộ tống dài hạn, Washington sẽ cần mạng lưới giám sát quy mô lớn trên toàn khu vực, duy trì tuần tra không quân liên tục và sẵn sàng triển khai lực lượng phản ứng nhanh trước các đợt tập kích bằng UAV hoặc xuồng cao tốc. Thậm chí, Mỹ có thể phải tính đến các cuộc đột kích hạn chế nhằm vào những vị trí bị cho là nơi triển khai vũ khí của Iran.

Tuy nhiên, ngay cả khi huy động lực lượng lớn, hiệu quả thực tế vẫn bị đánh giá hạn chế. Trong điều kiện bình thường, khoảng 130 tàu đi qua Hormuz mỗi ngày, trong khi chiến dịch “Dự án Tự do” chỉ hỗ trợ được hai tàu trong hai ngày hoạt động.

11-1778516184-vi-sao-doi-hai-quan-hung-manh-nhat-the-gioi-cung-bat-luc-truoc-hormuz
Dù triển khai tàu chiến, máy bay và hàng nghìn binh sĩ, Washington vẫn chưa thể khôi phục dòng chảy thương mại qua eo biển Hormuz. Ảnh: Reuters.

Điều này cho thấy khoảng cách rất lớn giữa năng lực quân sự và khả năng duy trì dòng chảy thương mại ổn định tại một “điểm nghẽn” chiến lược như Hormuz. Theo đánh giá, ngay cả chiến dịch quy mô lớn với sự tham gia của tàu chiến, máy bay và hàng chục nghìn binh sĩ cũng khó có thể đưa hoạt động vận tải trở lại trạng thái bình thường.

Bên cạnh đó, nguy cơ leo thang xung đột cũng khiến nhiều quốc gia trong khu vực dè dặt hỗ trợ Mỹ. Có thông tin cho rằng Saudi Arabia đã từ chối cho Washington sử dụng không phận và căn cứ quân sự phục vụ chiến dịch, trong bối cảnh Iran cảnh báo sẽ xem các tàu chiến hộ tống thương mại là lực lượng thù địch.

Giữa cuộc đối đầu địa chính trị căng thẳng, hàng chục nghìn thủy thủ thương mại được cho là vẫn mắc kẹt tại khu vực Vịnh Ba Tư do lo ngại rủi ro an ninh. Việc chiến dịch của Mỹ bị đình chỉ càng khiến tâm lý bất an gia tăng và đặt ra dấu hỏi lớn về khả năng bảo đảm tự do hàng hải tại eo biển Hormuz trong thời gian tới.

Thùy Dương (SHTT)