Chính phủ đề xuất Quốc hội đầu tư khoảng 288.268 tỷ đồng xây dựng đường vành đai 5 - vùng thủ đô Hà Nội, tuyến đường dài khoảng 349km, đi qua 7 tỉnh, thành. Dự án dự kiến được triển khai từ năm 2027 và cơ bản hoàn thành vào năm 2030.

Đường vành đai 5 sẽ đi qua 7 địa phương

Sáng 6/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình Quốc hội tờ trình về đầu tư xây dựng đường vành đai 5 - vùng thủ đô Hà Nội.

Theo đề xuất, tuyến đường có chiều dài khoảng 349km, đi qua TP Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, TP Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.

Phần tuyến chính được định hướng đầu tư theo quy mô cao tốc 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120km/h. Trong khi đó, đường song hành có quy mô tối thiểu 2 làn xe, tốc độ thiết kế 60-80km/h.

06-1785987825-chinh-phu-de-xuat-dau-tu-288000-ty-dong-xay-duong-vanh-dai-5-dai-349km-qua-7-tinh-thanh
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh - Ảnh: Q.Phúc/Tuổi Trẻ

Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của các phương án đầu tư, Chính phủ đề xuất trước mắt thực hiện dự án bằng hình thức đầu tư công. Sau khi công trình hoàn thành, tuyến đường sẽ được triển khai thu phí, tương tự dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông.

Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 288.268 tỷ đồng. Trong đó, tuyến chính cao tốc dự kiến cần khoảng 215.192 tỷ đồng, sử dụng ngân sách trung ương; phần đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, sử dụng ngân sách địa phương.

Trong giai đoạn 2026-2030, Chính phủ dự kiến bố trí khoảng 59.700 tỷ đồng cho dự án. Công tác chuẩn bị đầu tư sẽ được thực hiện trên toàn tuyến 349km, tạo cơ sở để huy động các nguồn lực.

Ưu tiên làm trước 116km phía Đông

Đối với tuyến chính cao tốc, Chính phủ dự kiến ưu tiên đầu tư khoảng 116km đoạn phía Đông, từ cầu Thái Hà đến cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn.

Đây là đoạn được xác định có nhu cầu vận tải cao, đồng thời có tiềm năng mở rộng không gian phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ và logistics. Với khả năng cân đối nguồn vốn, đoạn tuyến này dự kiến được đầu tư công, quy mô 6 làn xe.

Đối với đường song hành, phạm vi, quy mô và thời điểm triển khai sẽ được xác định dựa trên khả năng cân đối vốn ngân sách của từng địa phương.

Về tổ chức thực hiện, tại mỗi địa phương dự kiến chia thành 3 dự án thành phần, gồm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; xây dựng tuyến chính cao tốc và xây dựng đường song hành.

Các cầu lớn nằm trên địa bàn 2 địa phương sẽ được tách thành dự án thành phần riêng. Tổng số dự án thành phần dự kiến là 22.

Dự án được chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, triển khai thực hiện từ năm 2027 và cơ bản hoàn thành công trình vào năm 2030.

Những đoạn còn lại sẽ tiếp tục được huy động các nguồn vốn trong giai đoạn 2026-2030 để ưu tiên đầu tư sớm, hướng tới mục tiêu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

Chính phủ đồng thời đề xuất áp dụng 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt cho dự án. Trong đó, 8 nhóm chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại các dự án khác và 2 nhóm chính sách mới.

Đề nghị kiểm soát chặt chi phí, tái định cư và nguồn vật liệu

Thẩm tra đề xuất, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ hơn cơ chế điều phối thống nhất cũng như trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương.

06-1785987825-chinh-phu-de-xuat-dau-tu-288000-ty-dong-xay-duong-vanh-dai-5-dai-349km-qua-7-tinh-thanh
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi - Ảnh: Q.Phúc/Tuổi Trẻ

Theo Ủy ban, việc này nhằm bảo đảm dự án đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến độ, chất lượng công trình và giải ngân vốn.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị tiếp tục cập nhật suất vốn đầu tư, đơn giá, chi phí dự phòng cùng các yếu tố có thể làm biến động giá. Mục tiêu là bảo đảm tổng mức đầu tư sát với thực tế và hạn chế phải điều chỉnh trong quá trình triển khai.

Bên cạnh đó, cần rà soát đầy đủ số liệu về đất đai, dân cư bị ảnh hưởng, chuẩn bị quỹ đất tái định cư và có chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi nghề, ổn định sinh kế.

Đối với vật liệu xây dựng, Ủy ban đề nghị xây dựng phương án tổng thể về nhu cầu, nguồn cung, vận chuyển, khai thác hợp pháp và bảo vệ môi trường.

Việc chủ động phương án vật liệu nhằm tránh nguy cơ thiếu nguồn cung hoặc phát sinh khai thác trái phép, từ đó hạn chế ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư dự án.

PN (SHTT)