Đang trên đường đến gặp đối tác, Hoàng (28 tuổi), trưởng nhóm kinh doanh của một công ty công nghệ tại Hà Nội, bất ngờ phanh xe rồi quay đầu chạy ngược gần 12 km chỉ vì nhận ra điện thoại không còn trong túi.

Dù biết chắc sẽ đến muộn, anh vẫn không do dự. Trong đầu Hoàng liên tục hiện lên hàng loạt kịch bản tiêu cực: sếp gọi không ai nghe, khách hàng không liên lạc được, đối tác bỏ về và hợp đồng có nguy cơ đổ vỡ. Chỉ trong khoảng 30 phút quay về lấy điện thoại, anh luôn trong trạng thái căng thẳng, tim đập nhanh và vã mồ hôi.

Đây không phải lần đầu Hoàng phản ứng như vậy. Anh từng bỏ dở bữa sáng để quay lên lấy điện thoại chỉ vì nhớ chưa cắm sạc, hay đứng ngoài thang máy đã đóng cửa vì còn mải nhìn vào màn hình. Với anh, việc không có điện thoại bên mình mang đến cảm giác bất an đến mức "không thể sống nổi", theo VnExpress.

Không chỉ Hoàng, Linh, 19 tuổi, sinh viên Đại học Ngoại Thương, cũng gần như gắn chặt cuộc sống với chiếc điện thoại. Là chủ một tài khoản mạng xã hội có hàng chục nghìn người theo dõi, cô hình thành thói quen mở màn hình kiểm tra chỉ sau vài phút, ngay cả khi không có thông báo mới.

Trong một chuyến tình nguyện đến vùng cao, nơi không có sóng điện thoại và điện lưới, Linh nhanh chóng rơi vào trạng thái bồn chồn. Đêm đầu tiên, cô liên tục đi lại trong phòng, giơ điện thoại tìm tín hiệu. Sang ngày thứ hai, nữ sinh thậm chí muốn rời đoàn để bắt xe ôm ra thị trấn cách đó khoảng 20 km chỉ nhằm có kết nối Internet đăng bài lên mạng xã hội.

Theo lời Linh, cảm giác lúc ấy giống như bị tách khỏi cả thế giới và rơi vào sự cô độc hoàn toàn.

26-1782437707-vi-sao-nhieu-nguoi-phat-dien-khi-khong-co-dien-thoai
Ảnh minh họa: Internet

Các chuyên gia tâm lý gọi hiện tượng này là Nomophobia, viết tắt của cụm từ "no mobile phone phobia", dùng để chỉ trạng thái lo âu khi không có điện thoại bên cạnh hoặc không thể sử dụng thiết bị.

Ngay từ năm 2012, khảo sát của công ty bảo mật SecurEnvoy (Anh) trên 1.000 người đi làm cho thấy 66% người tham gia cảm thấy lo lắng khi không có điện thoại. Đây là một trong những nghiên cứu được trích dẫn nhiều trong lĩnh vực này. Những nghiên cứu học thuật sau đó chỉ ra rằng mức độ phụ thuộc vào điện thoại có sự khác biệt tùy theo độ tuổi, nghề nghiệp và môi trường văn hóa.

Một phân tích tổng hợp công bố năm 2023 trên tạp chí Healthcare Informatics Research, thực hiện với khoảng 11.300 sinh viên tại tám quốc gia, ghi nhận 56% người tham gia có biểu hiện nomophobia ở mức trung bình, 24% ở mức nhẹ và 17% ở mức nặng.

Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2024 trên 950 học sinh THCS và THPT thuộc sáu trường ở Huế do Đại học Sư phạm Huế thực hiện cho thấy gần như toàn bộ học sinh khảo sát đều có biểu hiện nomophobia ở các mức độ khác nhau. Trong đó, 63,1% ở mức trung bình và 23,7% ở mức nặng.

VnExpress dẫn lời Tiến sĩ Cao Trần Thành Trung, Giám đốc điều hành Trung tâm Tham vấn Tâm lý Lumos cho biết, nomophobia hiện chưa được công nhận là một rối loạn tâm thần chính thức, nhưng đang trở thành hiện tượng tâm lý đáng quan tâm, đặc biệt ở thanh thiếu niên và người trẻ.

Ông cho biết bản chất của hiện tượng này là cảm giác lo âu, bất an hoặc khó chịu khi không thể sử dụng điện thoại, dù nguyên nhân là hết pin, mất sóng, để quên máy hay không thể liên lạc với người khác.

Trong bối cảnh hiện nay, điện thoại thông minh không chỉ phục vụ liên lạc mà còn gắn với thanh toán, ngân hàng số, định vị, công việc và nhiều hoạt động thường ngày. Vì vậy, việc thiếu điện thoại đôi khi gây ra những bất tiện có thật trong cuộc sống. Điều này khiến ranh giới giữa sự lo lắng vì nhu cầu thực tế và sự phụ thuộc về tâm lý trở nên khó phân biệt hơn.

Ngoài yếu tố thực tiễn, các cơ chế của mạng xã hội cũng góp phần hình thành sự lệ thuộc. Những thông báo liên tục như tin nhắn, lượt thích hay phản hồi tức thì có thể khiến não bộ dần tạo thành phản xạ kiểm tra điện thoại để tìm kiếm cảm giác yên tâm.

Khi việc mở điện thoại diễn ra một cách vô thức và lặp đi lặp lại, đó có thể là dấu hiệu đáng chú ý. Nguy cơ càng tăng ở những người thường xuyên chịu căng thẳng, cảm thấy cô đơn, có nền tảng lo âu hoặc phụ thuộc vào mạng xã hội để tìm kiếm sự công nhận.

Theo chuyên gia, nhóm dễ gặp tình trạng này nhất là học sinh cuối cấp, sinh viên và người trẻ mới đi làm, đặc biệt những người sử dụng mạng xã hội với tần suất cao hoặc luôn mang tâm lý sợ bỏ lỡ thông tin.

Một số biểu hiện thường gặp gồm liên tục kiểm tra điện thoại dù không có thông báo, hoảng hốt khi máy hết pin hoặc mất sóng, khó tập trung nếu không có điện thoại bên cạnh, thức khuya vì sử dụng thiết bị và luôn cảm thấy bất an khi không thể cập nhật mạng xã hội.

Tiến sĩ Cao Trần Thành Trung nhấn mạnh, yếu tố quan trọng không nằm ở số giờ sử dụng điện thoại mỗi ngày mà ở khả năng kiểm soát hành vi của mỗi người. Người sử dụng điện thoại vì yêu cầu công việc vẫn có thể chủ động tạm rời thiết bị mà không rơi vào trạng thái hoảng loạn. Ngược lại, người phụ thuộc về tâm lý thường cảm thấy mất kiểm soát ngay cả khi không có nhu cầu sử dụng thực sự.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý không nên vội coi bất kỳ ai cảm thấy khó chịu khi thiếu điện thoại là mắc bệnh. Chỉ khi sự lo âu kéo dài, ảnh hưởng rõ rệt đến giấc ngủ, khả năng tập trung, học tập, công việc hoặc khiến cuộc sống thường ngày bị xáo trộn thì mới cần được quan tâm và can thiệp.

Theo vị chuyên gia, mục tiêu không phải là buộc mọi người từ bỏ điện thoại hoàn toàn mà là giúp não bộ dần thích nghi với việc tạm thời không có thiết bị bên cạnh. Những thay đổi nhỏ như để điện thoại ở phòng khác khi ăn cơm cùng gia đình hoặc đi dạo trong thời gian ngắn mà không mang theo máy có thể là bước khởi đầu. Quan trọng hơn, mỗi người cần nhận thức rằng giá trị bản thân không được quyết định bởi số lượt thích hay mức độ hiện diện trên không gian mạng.

PN (SHTT)